TIẾN BỘ VÀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ
VẤN
ĐỀ TIẾN BỘ VÀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ
Trong quá trình phát triển
kinh tế, vấn đề tiến bộ và công bằng xã hội luôn được xem là một trong những trụ
cột nền tảng để đảm bảo sự phát triển bền vững, toàn diện và hài hòa. Trong
kinh tế học, “công bằng xã hội” thường được hiểu là trạng thái phân phối nguồn
lực (thu nhập, của cải, cơ hội) một cách hợp lý và không thiên vị, sao cho mọi
người có quyền tiếp cận ngang nhau đến các nguồn lực cơ bản để phát triển năng
lực cá nhân và tham gia đời sống kinh tế – xã hội. Trong khi đó, dưới góc độ xã
hội học, công bằng và tiến bộ xã hội không chỉ nằm ở sự phân phối mà còn gắn liền
với các điều kiện tái sản xuất xã hội, tức là khả năng tiếp cận các cơ hội học
tập, chăm sóc sức khỏe, đời sống văn hóa, bảo vệ quyền lợi, và sự tham gia bình
đẳng vào các quá trình ra quyết định xã hội. “Tiến bộ xã hội” được hiểu như là
sự cải thiện không ngừng về chất lượng cuộc sống con người, bao gồm cả về vật
chất lẫn tinh thần, trong đó những giá trị như tự do, công bằng, nhân văn và hạnh
phúc được đề cao.
Tại Việt Nam, mặc dù đã đạt được
nhiều thành tựu đáng kể trong công cuộc xóa đói giảm nghèo và mở rộng tiếp cận
dịch vụ công, nhưng tình trạng bất bình đẳng vẫn đang tồn tại dai dẳng và có
nguy cơ gia tăng trong bối cảnh hội nhập và chuyển đổi kinh tế. Về mặt vùng miền,
sự chênh lệch phát triển giữa các vùng kinh tế trọng điểm và các khu vực miền
núi, vùng sâu vùng xa vẫn rất lớn, không chỉ về thu nhập mà còn về cơ sở hạ tầng,
chất lượng giáo dục và y tế. Về giới tính, dù pháp luật Việt Nam có nhiều quy định
tiến bộ, phụ nữ vẫn gặp rào cản trong tiếp cận cơ hội kinh tế, giữ vị trí lãnh
đạo hoặc hưởng lương ngang bằng nam giới trong cùng công việc. Về thu nhập, hệ
số Gini của Việt Nam trong những năm gần đây dao động quanh mức 0,38–0,41, phản
ánh khoảng cách thu nhập chưa được cải thiện đáng kể[1]. Nhiều nhóm yếu thế như người khuyết tật, dân tộc
thiểu số, người di cư lao động vẫn gặp khó khăn trong tiếp cận dịch vụ công, nhất
là các dịch vụ thiết yếu như y tế, giáo dục, nhà ở và an sinh xã hội.
Trong bối cảnh đó, vai trò của
chính sách xã hội trở nên hết sức quan trọng để điều tiết bất bình đẳng và thúc
đẩy công bằng, tiến bộ xã hội. Chính sách bảo hiểm xã hội giúp mở rộng lưới an
sinh cho người lao động, giảm rủi ro và bất ổn trong đời sống cá nhân và gia
đình. Chính sách giáo dục có vai trò then chốt trong việc tạo cơ hội phát triển
năng lực cho mọi người, nhất là trẻ em vùng khó khăn, từ đó góp phần phá vỡ
vòng luẩn quẩn của nghèo đói. Y tế công cộng và bảo hiểm y tế góp phần đảm bảo
quyền được chăm sóc sức khỏe cơ bản cho mọi người dân. Chương trình giảm nghèo
tiếp cận đa chiều thời gian qua đã giúp nâng cao năng lực tự chủ của người
nghèo, chú trọng đến tiếp cận dịch vụ và giảm nghèo bền vững. Tuy vậy, hệ thống
chính sách xã hội hiện vẫn cần được cải cách mạnh mẽ theo hướng bao trùm hơn,
hướng đến tiếp cận phổ cập và công bằng thực chất, đồng thời gắn kết tốt hơn với
quá trình phát triển kinh tế thị trường.
Từ kinh nghiệm quốc tế, có thể
học hỏi các mô hình cân bằng tăng trưởng và công bằng xã hội thành công như của
các nước Bắc Âu, điển hình là Thụy Điển, Na Uy hay Đan Mạch. Các quốc gia này
đã xây dựng được mô hình “nhà nước phúc lợi phổ quát”, trong đó các dịch vụ xã
hội như y tế, giáo dục, chăm sóc trẻ em và người già được cung cấp chất lượng
cao, không phân biệt thu nhập. Sự đầu tư vào giáo dục và hệ thống thuế lũy tiến
cũng giúp điều tiết thu nhập hiệu quả. Hàn Quốc là một trường hợp đáng tham khảo
với mô hình phát triển hướng vào giáo dục phổ cập và công nghệ, nhờ đó nâng cao
năng lực cạnh tranh quốc gia mà vẫn giảm được bất bình đẳng thế hệ. Cả Bắc Âu
và Hàn Quốc đều cho thấy, để đạt tiến bộ và công bằng xã hội trong phát triển
kinh tế, nhà nước cần giữ vai trò chủ động điều tiết thị trường, đồng thời thiết
kế hệ thống chính sách công hợp lý, minh bạch, hiệu quả và có khả năng bao phủ
rộng khắp, đặt con người ở trung tâm của quá trình phát triển.
1. Khái niệm
công bằng và tiến bộ xã hội trong kinh tế học và xã hội học
Trong tiến trình phát triển
kinh tế -xã hội, công bằng và tiến bộ xã hội là hai khái niệm trung tâm, phản
ánh không chỉ mục tiêu cuối cùng của chính sách phát triển mà còn là tiêu chí
đánh giá chất lượng của sự phát triển đó. Dưới góc độ kinh tế học, công bằng xã
hội chủ yếu được hiểu trong mối quan hệ với vấn đề phân phối nguồn lực, thu nhập
và cơ hội một cách hợp lý và không thiên lệch giữa các cá nhân, nhóm xã hội hay
vùng lãnh thổ. Có hai cách tiếp cận chủ yếu về công bằng trong kinh tế học:
công bằng theo kết quả (đảm bảo mọi người có mức sống tương tự nhau) và công bằng
theo cơ hội (đảm bảo mọi người có điều kiện khởi đầu và cơ hội phát triển như
nhau). Trong khi đó, tiến bộ xã hội thường được hiểu như sự cải thiện không ngừng
về đời sống vật chất và tinh thần của con người, gắn với các chỉ số về tuổi thọ,
trình độ học vấn, mức sống, mức độ tự do lựa chọn và tham gia xã hội. Tiến bộ
xã hội trong kinh tế học vì vậy không chỉ đo bằng tốc độ tăng trưởng GDP mà còn
bằng khả năng chuyển hóa thành tựu kinh tế thành lợi ích thực chất cho con người.
Ở góc nhìn xã hội học, công bằng
là sự tương xứng giữa “cống hiến” và “hưởng thụ” trong điều kiện mọi người “có
cơ hội ngang nhau” (loại bỏ các đặc quyền về thừa kế, mở ra khả năng cho mọi cá
nhân thực hiện năng lực và tài năng của mình)[2]. Theo đó, công bằng xã hội không chỉ dừng lại ở
phân phối thu nhập hay cơ hội, mà còn bao gồm sự công nhận, tôn trọng và đảm bảo
phẩm giá của các nhóm khác nhau trong xã hội, đặc biệt là các nhóm yếu thế như
phụ nữ, người nghèo, người dân tộc thiểu số, người khuyết tật, người di cư... Khái
niệm “công bằng” trong xã hội học không thể tách rời khỏi bối cảnh cấu trúc xã
hội, mối quan hệ quyền lực, các chuẩn mực văn hóa và sự vận hành của thể chế.
Trong khi đó, tiến bộ xã hội được nhìn nhận như một quá trình nâng cao chất lượng
đời sống con người theo hướng nhân văn, bền vững và hài hòa – bao gồm không chỉ
các yếu tố kinh tế mà còn cả giá trị đạo đức, tinh thần, sự tham gia và tự chủ
của người dân trong các hoạt động xã hội. Như vậy, nếu kinh tế học nhấn mạnh
vai trò của thị trường, chính sách tài khóa và phân phối lại trong tạo lập công
bằng, thì xã hội học nhấn mạnh đến cấu trúc xã hội, các rào cản mang tính hệ thống
và vai trò của các thiết chế trong việc đảm bảo sự công bằng và tiến bộ thực chất.
Cả hai cách tiếp cận trên, dù
khác biệt về phương pháp và trọng tâm, đều cùng hướng đến một mục tiêu chung là
phát triển lấy con người làm trung tâm, đảm bảo mọi cá nhân trong xã hội đều có
cơ hội và điều kiện phát triển toàn diện, được sống trong một môi trường bình đẳng,
an toàn, có phẩm giá và được tôn trọng. Trong bối cảnh hiện nay, việc kết hợp
hài hòa hai cách tiếp cận này sẽ giúp hoạch định chính sách phát triển kinh tế
– xã hội toàn diện hơn, vừa bảo đảm hiệu quả kinh tế, vừa hướng tới công bằng
và tiến bộ xã hội sâu rộng và bền vững.
Bảng 1: Sự khác biệt cách tiếp cận về công bằng giữa
kinh tế học và xã hội học
|
Tiêu chí |
Kinh tế học |
Xã hội học |
|
·
Trọng tâm |
Phân phối thu nhập, nguồn lực, và cơ hội một cách hợp
lý, không thiên lệch. |
Mối quan hệ giữa “cống hiến” – “hưởng thụ” và các yếu
tố cấu trúc xã hội, quyền lực, văn hóa. |
|
·
Khái niệm công bằng xã hội |
- Công bằng theo kết quả (equal outcomes). |
- Công bằng là sự tương xứng giữa đóng góp và hưởng
lợi trong điều kiện bình đẳng cơ hội. |
|
·
Đối tượng phân tích |
Cá nhân, nhóm, vùng lãnh thổ trong phân bổ nguồn lực. |
Nhóm xã hội, đặc biệt là các nhóm yếu thế (phụ nữ,
người nghèo, dân tộc thiểu số, người khuyết tật…). |
|
·
Khái niệm tiến bộ xã hội |
Cải thiện đời sống vật chất và tinh thần; nhấn mạnh
GDP, tuổi thọ, học vấn, mức sống, tự do lựa chọn. |
Nhấn mạnh chất lượng sống nhân văn, sự tự chủ, sự
tham gia xã hội, giá trị tinh thần, đạo đức và bền vững. |
|
·
Công cụ chủ yếu |
Thị trường, chính sách tài khóa, tái phân phối thu
nhập. |
Thiết chế xã hội, cấu trúc quyền lực, hệ thống giá
trị và chuẩn mực văn hóa |
|
·
Tầm quan trọng của bối cảnh
xã hội |
Thường đặt trọng tâm vào các chỉ số đo lường khách
quan. |
Đặt công bằng trong mối quan hệ với các cấu trúc xã
hội, bất bình đẳng hệ thống, và tương tác xã hội phức tạp. |
|
·
Mục tiêu cuối cùng |
Tối ưu hóa hiệu quả và đảm bảo công bằng trong phân
phối. |
Bảo đảm phẩm giá, nhân phẩm, sự tôn trọng và khả
năng tham gia đầy đủ của mọi người vào đời sống xã hội. |
Như vậy, kinh tế
học tiếp cận công bằng xã hội theo hướng
kỹ trị, tức là chú trọng đo lường, tính hiệu
quả và sự can thiệp chính sách để cải thiện phân phối thu nhập, cơ hội; xã hội học tiếp
cận theo hướng nhân văn – cấu trúc, tức là tiến
hành phân tích các nguyên nhân sâu xa của bất bình đẳng, nhấn mạnh đến bối cảnh văn hóa, quyền lực và thể chế. Do đó, trong
nghiên cứu cần có sự kết hợp giữa hai cách tiếp cận để xem xét vấn đề. Sự kết hợp
cả hai góc nhìn giúp chính sách phát triển không chỉ “công bằng trên giấy tờ”
mà còn “công bằng trong đời sống thực tế”, vì vừa giải quyết được phân phối vật
chất, vừa thúc đẩy sự công nhận, hòa nhập và phẩm giá con người.
2. Tình trạng
bất bình đẳng ở Việt Nam
Nhìn lại suốt chiều dài lịch sử mà đặc biệt là từ những năm đổi mới
(1986) đến nay, Việt Nam đã có những bước tiến về mọi mặt, mọi lĩnh vực, nhất
là trong lĩnh vực kinh tế và công bằng xã hội. “Tuy nhiên ngày càng có nhiều lo
ngại về bất bình đẳng gia tăng trên nhiều bình diện của cuộc sống. Đặc biệt về
cơ hội và tiếng nói đối với một số nhóm dân cư. Trong khi đó, vẫn còn khoảng trống
trong phân tích đa chiều để có cái nhìn toàn diện và có chiều sâu về bất bình đẳng.
Nghiên cứu “Bất bình đẳng đa chiều ở Việt Nam”. Nghiên
cứu đã chỉ ra rằng: “Có sự chênh lệch lớn giữa các nhóm dân cư khác nhau về khu
vực địa lý, vùng kinh tế - xã hội và dân tộc về khả năng thực hiện quyền được
tiếp cận nền giáo dục chất lượng, quyền được sống khỏe mạnh, khả năng tiếp cận
cơ sở vật chất, dịch vụ chăm sóc sức khỏe chất lượng”[3].
Dưới cách tiếp cận “bất bình đẳng đa chiều”, chúng ta có thể nhận thấy được
sự chênh lệch về vùng miền, giới tính, dân tộc; thu nhập, tiếp cận cơ hội, sự
tham gia và có tiếng nói; giáo dục, y tế và nhiều lĩnh vực khác.
(1) Bất bình
đẳng vùng miền
Khoảng cách phát triển giữa các vùng miền ngày càng rõ nét, nhất là giữa khu
vực đô thị và nông thôn, vùng đồng bằng và vùng núi, biên giới, hải đảo. Các tỉnh
miền núi phía Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ có tỷ lệ hộ nghèo cao hơn mức trung
bình cả nước, cơ sở hạ tầng yếu kém, trình độ dân trí thấp, điều kiện học tập –
y tế hạn chế. Dòng vốn đầu tư, cơ hội việc làm và chất lượng dịch vụ công thường
tập trung ở đô thị lớn như Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng…, khiến các vùng khác chậm
phát triển hơn. Dưới góc nhìn xã hội học kinh tế, cần có những điều chỉnh bằng
chính sách một cách kịp thời để kéo giảm hệ số chênh lệnh giữa các vùng miền
trong thời gian đến.
(2) Bất bình đẳng về giới
Nghiên cứu định lượng lẫn định tính đều cho thấy
có sự tồn tại sự chênh lệch khác sâu sắc giữa nam giới và nữ giới, giữa hộ
nghèo với trình độ học vấn thấp với hộ giàu, sống ở thành thị và có trình độ học
vấn cao. Ví dụ: Khi được hỏi về tên của Thủ tướng Chính phủ đương nhiệm có một
sự khác biệt lớn giữa sự hiểu biết của nam giới và nữ giới, chỉ có 32% phụ nữ
có thể nêu tên Thủ tướng trong khi 70% nam giới làm được điều này. So với nam
giới thì nữ giới có mức độ quan tâm đến chính trị thấp hơn và có tỷ lệ tham gia
bầu cử thấp.
Ngoài bầu cử, việc người dân tham gia các cuộc họp với đại diện quần
chúng, hoặc lãnh đạo địa phương là tiền đề góp phần giúp người dân hiểu được
vai trò và ảnh hưởng của mình. Đồng thời tạo động lực giúp người dân chủ động
đóng góp ý kiến xây dựng chính sách địa phương và chính sách quốc gia. Nhưng, tỷ
lệ nam giới đi họp thường cao gần gấp đôi nữ giới.
Bất bình đẳng trong sự tham gia, tạo ảnh hưởng và đóng góp ý kiến bị chi
phối bởi sự mất cân bằng về quyền lực giữa các nhóm dân cư. Có 4 nguyên nhân dẫn
đến tình trạng bất bình đẳng này được chỉ ra gồm: Sự tồn tại của các chuẩn mực
xã hội và văn hóa cản trở sự tham gia của phụ nữ; Thiếu hiệu quả trong việc
khuyến khích sự tham gia dân chủ của tất cả các nhóm dân cư. Thiếu hiệu quả
trong việc thực thi pháp luật nhằm đảm bảo tính minh bạch và ngăn ngừa tham
nhũng[4].
Trong thời
gian qua, mặc dù Việt Nam đạt được nhiều tiến bộ trong thúc đẩy bình đẳng
giới [5], nhưng vẫn
tồn tại khoảng cách: (1) Phụ nữ thường có ít cơ hội tiếp cận vị trí
lãnh đạo, quản lý hơn nam giới; (2) Phụ nữ làm việc nhiều trong khu vực
phi chính thức, việc làm thiếu bền vững, thu nhập thấp hơn;
(3) Tư tưởng trọng nam, định kiến giới vẫn tồn tại trong nhiều gia đình và cộng
đồng, đặc biệt ở nông thôn và miền núi; (4) Vấn đề bạo
lực gia đình, xâm hại tình dục và phân biệt đối xử với phụ nữ, trẻ em gái
vẫn là thách thức lớn.
Đương nhiên, nhìn nhận tổng thể các nỗ lực của Việt Nam trong thúc đẩy
bình đẳng xã hội nói chung, bình đẳng giới nói riêng, với những chính sách hiện
hành gắn với nỗ lực, quyết tâm của toàn hệ thống chính trị trong thúc đẩy bình
đẳng giới, dự báo Việt Nam có thể tiếp tục cải thiện vị trí trong bảng xếp hạng
bình đẳng giới toàn cầu và cải thiện các vấn đề về giới như đã phân tích.
(1) Bất bình đẳng thu nhập
Bất bình đẳng thu nhập (hình thành khoảng cách giàu nghèo) là chênh lệch
thu nhập và tài sản giữa các cá nhân, nhóm trong xã hội hay giữa các quốc gia
gây ra ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình tăng trưởng kinh tế[6].
Đây là hiện tượng khá phổ biến với hầu hết các quốc gia trên thế giới mà Việt
Nam không là ngoại lệ.
Mức độ bất bình đẳng thu nhập của quốc gia hiện nay dựa trên các thước đo
như hệ số GINI, hệ số chênh lệch giàu nghèo,... Thông qua hệ số GINI của Việt
Nam trong từng thời kỳ mà nhất là trong những năm gần đây cho thấy, bất bình đẳng
thu nhập tại Việt Nam biến động không nhiều. Theo Tổng Cục thống kê, hệ số GINI
(theo thu nhập) của Việt Nam năm 2023 là 0,374, không thay đổi nhiều so với
năm 2022 và vẫn giữ ở mức bất bình đẳng trung bình. Mức độ bất bình đẳng trong
phân phối thu nhập ở khu vực nông thôn cao hơn khu vực thành thị (0,370 so với
0,345). Hai vùng có tỷ lệ hộ nghèo cao là Trung du miền núi phía Bắc và Tây
Nguyên cũng là hai vùng có mức độ bất bình đẳng cao nhất (tương ứng 0,410 và
0,407), Đồng bằng sông Hồng là vùng có mức độ bất bình đẳng thấp nhất (0,335)[7].
Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, khoảng cách thu nhập giữa các
nhóm dân cư ngày càng mở rộng. Việc đánh giá một cách có hệ thống
các chỉ tiêu trong lĩnh vực này cho thấy có sự chênh lệch lớn, tồn tại dai dẳng
giữa các hộ gia đình có thu nhập cao từ thành thị, hoặc có trình độ học vấn cao
khi so sánh với nhóm dân tộc thiểu số, phụ nữ, những nhóm sống ở khu vực nông
thôn[8].
Tầng lớp giàu
ngày càng giàu lên, trong khi nhóm nghèo và cận nghèo dễ tổn thương trước biến
động kinh tế, thiên tai, dịch bệnh. Lực lượng lao động khu vực nông nghiệp và
phi chính thức chiếm tỷ lệ lớn nhưng thu nhập bấp bênh, không ổn định.
Với những chỉ báo cụ thể về bất bình đẳng về thu nhập như trên, nếu không
có các chính sách điều chỉnh một cách kịp thời thì bất bình đẳng thu nhập có thể
tiếp tục gia tăng, ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế hài hòa, bào trùm và bền vững.
(4) Bất bình
đẳng trong tiếp cận dịch vụ công
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, bên cạnh những mặt tích cực thì “tình trạng
bất bình đẳng, phân biệt đối xử trong việc tiếp cận dịch vụ hành chính công còn
khá phổ biến; doanh nghiệp nhà nước được ưu ái hơn so với doanh nghiệp ngoài quốc
doanh; người có chức quyền hoặc thân quen dễ tiếp cận các dịch vụ hơn người dân
bình thường…”[9]
Một số dịch vụ
công như giáo dục, y tế, bảo hiểm y tế, cấp nước sạch, hạ tầng giao
thông, thông tin chưa được phân bổ đồng đều: Người dân ở vùng
sâu, vùng xa còn gặp khó khăn trong tiếp cận trường học, trạm y tế chất
lượng cao; Trẻ em ở nông thôn, dân tộc thiểu số có nguy cơ bỏ học sớm,
thiếu điều kiện học tập trực tuyến; Người lao động phi chính thức,
không có hợp đồng lao động gặp khó trong việc tiếp cận bảo hiểm y tế, bảo
hiểm xã hội; Dịch vụ công trực tuyến phát triển mạnh ở thành phố,
nhưng ở vùng nông thôn còn hạn chế do thiếu kỹ năng số, thiết bị và hạ
tầng công nghệ; Người dân ở vùng sâu, vùng xa còn
gặp khó khăn trong tiếp cận dịch vụ công chất lượng cao.
Việc số
hóa các dịch vụ công (như y tế, giáo dục, hành chính công, bảo hiểm xã
hội…) là xu thế tất yếu trong cải cách hành chính và phát triển chính phủ số. Số
hóa không chỉ giúp tăng hiệu quả, minh bạch, mà còn mở
rộng khả năng tiếp cận dịch vụ cho người dân, nhất là ở vùng sâu, vùng
xa. Tuy nhiên, số hóa không tự động đồng nghĩa với công bằng nếu
không đi kèm với các điều kiện bảo đảm hạ tầng và năng lực tiếp cận của
người dân. Hiện nay, Việt Nam vẫn đang tồn tại tình trạng bất
bình đẳng số khá rõ nét, nhất là giữa thành thị và nông thôn,
nhóm thu nhập cao và thu nhập thấp, giữa người trẻ tuổi và người già, người
khuyết tật, người dân tộc thiểu số,…
Để số hóa thực
sự trở thành công cụ thu hẹp bất bình đẳng, cần có những chính
sách hỗ trợ đặc thù, cụ thể như: Đầu tư hạ tầng công nghệ số
cho vùng khó khăn (cáp quang, sóng 4G/5G, điểm truy cập công cộng miễn
phí…); Tăng cường đào tạo kỹ năng số cho người dân, đặc biệt
là nhóm yếu thế, người lớn tuổi, phụ nữ nông thôn; Phát triển dịch vụ
công thân thiện, dễ sử dụng, hỗ trợ đa ngôn ngữ, tích hợp trợ lý ảo hoặc
hướng dẫn đơn giản; Chính sách tài chính hỗ trợ thiết bị số,
như điện thoại thông minh giá rẻ, hỗ trợ gói cước internet cơ bản,..
Như vậy, nếu
không đi kèm chính sách “điều tiết bất bình đẳng số”, việc số hóa có thể vô
tình làm gia tăng khoảng cách giữa các nhóm dân cư. Ngược lại,
nếu được triển khai hợp lý, đây chính là công cụ mạnh mẽ để thu hẹp bất
bình đẳng trong tiếp cận dịch vụ công, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa.
3. Vai trò của
chính sách xã hội trong thực hiện công bằng xã hội
Chính sách xã hội là một bộ phận cấu thành chính sách
chung của một chính quyền nhà nước, hướng tới các lĩnh vực xã hội nhằm giải quyết
các vấn đề liên quan đến cuộc sống con người, đến lợi ích của các nhóm xã hội
trong xã hội, nó góp phần điều chỉnh các quan hệ xã hội cho phù với sự phát triển
chung của xã hội. Như vậy, chính sách xã hội đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc
thực hiện công bằng xã hội. Nó không chỉ là công cụ của nhà nước để giải quyết
các vấn đề xã hội, mà còn là phương tiện giúp hướng đến một xã hội công bằng, ổn
định và bền vững. Sau đây là các khía cạnh quan trọng về vai trò của chính sách
xã hội trong việc thực hiện công bằng xã hội[10]:
(1) Đảm bảo công bằng xã hội
Chính sách xã hội là công cụ quan trọng để giải quyết các
vấn đề về bất bình đẳng trong xã hội, từ thu nhập, giáo dục, y tế, đến tiếp cận
các dịch vụ công. Các chính sách như xóa đói giảm nghèo, bảo trợ xã hội, bảo vệ
quyền lợi của phụ nữ, trẻ em và các nhóm yếu thế là những biện pháp nhằm giảm bớt
sự phân hóa xã hội, tạo điều kiện cho tất cả mọi người đều có cơ hội bình đẳng
trong việc thỏa mãn các nhu cầu cơ bản.
Ví dụ, các chính sách như trợ cấp xã hội, bảo hiểm y tế
toàn dân hay chính sách giáo dục miễn phí cho học sinh nghèo đều là những cách
tiếp cận của chính sách xã hội nhằm đảm bảo rằng mọi thành viên trong xã hội đều
có cơ hội tiếp cận với các dịch vụ cơ bản như giáo dục, y tế, nhà ở, từ đó giảm
thiểu sự phân biệt giàu nghèo, vùng miền, giới tính.
(2) Giải quyết các vấn đề xã hội cấp bách
Chính sách xã hội hướng đến việc giải quyết những vấn đề
xã hội cấp bách như đói nghèo, bất bình đẳng giới, sự phân hóa giữa các vùng miền,
hay những vấn đề phát sinh từ sự biến động xã hội như di cư, thay đổi nhân khẩu
học, v.v. Các chính sách này không chỉ tạo ra sự ổn định xã hội mà còn thúc đẩy
sự phát triển bền vững.
Ví dụ: Chính
sách xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam, cùng với các chương trình hỗ trợ người
nghèo và các nhóm yếu thế, như hỗ trợ nhà ở cho người nghèo, miễn giảm học phí
cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn, giúp họ có cơ hội nâng cao chất lượng cuộc
sống và hòa nhập vào xã hội.
(3) Tạo cơ hội bình đẳng
Một trong những mục tiêu chính của chính sách xã hội là tạo
ra một môi trường mà trong đó mọi người có cơ hội phát triển như nhau. Chính
sách xã hội không chỉ nhắm đến phân phối lại tài nguyên mà còn tạo cơ hội cho
các nhóm yếu thế trong xã hội (như phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật) có thể
tham gia vào các hoạt động xã hội và kinh tế. Điều này giúp đảm bảo rằng mọi cá
nhân, bất kể xuất phát điểm, đều có cơ hội để phát triển và thăng tiến trong xã
hội.
(3) Phát triển con người toàn diện
Chính sách xã hội hướng đến mục tiêu phát triển con người
toàn diện, không chỉ tập trung vào các yếu tố kinh tế mà còn chú trọng đến các
yếu tố văn hóa, giáo dục và tinh thần. Chính sách xã hội đảm bảo rằng mọi người
đều có cơ hội học tập, làm việc, và hưởng thụ các dịch vụ công, từ đó nâng cao
chất lượng cuộc sống.
Ví dụ: Chính
sách giáo dục toàn diện, giáo dục miễn phí cho học sinh ở các vùng khó khăn là
một cách tiếp cận nhằm phát triển con người, giảm bất bình đẳng trong tiếp cận
giáo dục.
(5) Tạo môi trường xã hội hài hòa, ổn định
Chính sách xã hội không chỉ giải quyết các vấn đề kinh tế
mà còn chú trọng đến sự phát triển ổn định của các nhóm xã hội, tạo dựng một xã
hội hài hòa, nơi các giá trị xã hội được tôn trọng. Các chính sách bảo vệ quyền
lợi của các nhóm dễ bị tổn thương (như người khuyết tật, người dân tộc thiểu số,
người di cư) giúp tạo ra một xã hội không phân biệt và có sự bảo vệ công bằng
cho tất cả các thành viên.
Ví dụ: Các
chính sách chống phân biệt đối xử trong công việc, tại các cơ sở giáo dục, và
trong các cộng đồng nhằm bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ em gái, hoặc chính
sách bảo vệ quyền lợi của người dân tộc thiểu số và người khuyết tật.
(6) Hướng tới phát triển bền vững
Chính sách xã hội cũng đóng vai trò quan trọng trong việc
tạo dựng một xã hội bền vững. Bằng cách thực hiện các chính sách liên quan đến
bảo vệ môi trường, cung cấp dịch vụ công bền vững và đảm bảo sự phát triển lâu
dài của các nhóm yếu thế trong xã hội, chính sách xã hội có thể giúp cải thiện
chất lượng cuộc sống và phát triển xã hội một cách bền vững.
Tóm lại, chính sách xã hội có vai trò vô cùng quan trọng
trong việc thực hiện công bằng xã hội. Nó không chỉ giúp điều chỉnh sự phân hóa
xã hội, mà còn thúc đẩy sự phát triển toàn diện của con người, bảo vệ quyền lợi
của các nhóm yếu thế, và tạo ra một xã hội hài hòa, ổn định và bền vững. Việc
xây dựng và thực hiện các chính sách xã hội cần phải có sự đồng tham gia của cả
nhà nước và cộng đồng để đạt được hiệu quả cao nhất.
TS Phạm Đi
[1] Tham kiến: https://tapchicongthuong.vn/bat-binh-dang-thu-nhap-o-viet-nam-hien-nay-thuc-trang-va-khuyen-nghi-73240.htm
[2] Nguyễn Khắc Viện (chủ biên),
Từ điển Xã hội học, Nxb. Thế giới,
H.1994. tr.4
[3] Tham kiến: https://baophunuthudo.vn/phu-san-doi-song-gia-dinh/bat-binh-dang-da-chieu-o-viet-nam-dang-co-su-chenh-lech-lon-52405.html
[4] Hạ Thi, Bất bình đẳng đa chiều ở Việt Nam: Đang có sự chênh lệch lớn. (tham kiến tại: https://baophunuthudo.vn/phu-san-doi-song-gia-dinh/bat-binh-dang-da-chieu-o-viet-nam-dang-co-su-chenh-lech-lon-52405.html)
[5] Năm 2023, Việt Nam xếp thứ 72/146 quốc gia về bình đẳng giới, tăng
11 bậc so với năm 2022.
[6] Cornia and Court
(2001). Inequality, Growth and Poverty in the Era of Liberlization and
Globalization. Helsinki, Finland: World Institute for Development
Economics Research, United Nations University.
[7] Tổng Cục thống kê, Thông cáo báo chí kết quả khảo sát mức sống dân
cư năm 2023 (tham kiến: https://www.gso.gov.vn/tin-tuc-thong-ke/2024/04/thong-cao-bao-chi-ket-qua-khao-sat-muc-song-dan-cu-nam-2023)
[8] Hạ Thi, Bất bình đẳng đa chiều ở Việt
Nam: Đang có sự chênh lệch lớn. (tham kiến tại: https://baophunuthudo.vn/phu-san-doi-song-gia-dinh/bat-binh-dang-da-chieu-o-viet-nam-dang-co-su-chenh-lech-lon-52405.html)
[9] Nguyễn Văn Đồng, Thực tiễn dịch vụ hành chính công trong nền hành chính nhà nước Việt
Nam, Tạp chí Tổ chức Nhà nước (điện tử) số ra ngày 13/04/2018
[10] Phạm Đi, Xã hội học với lãnh đạo, quản lý. Nxb. Chính trị quốc gia sự thật, H.2023,
tr.457-458
Nhận xét
Đăng nhận xét