Y TẾ THÔNG MINH TRONG ĐÔ THỊ THÔNG MINH

 

Y TẾ THÔNG MINH TRONG ĐÔ THỊ THÔNG MINH

Xuất phát từ yêu cầu và cơ sở thực tiễn, khi tiến hành xây dựng đô thị thông minh thì lĩnh vực y tế cũng phải tiến hành cải cách, xây dựng theo hướng thông minh trên 3 “lớp” (đối tượng) then chốt là: người dân, các cơ sở y tế và công tác quản lý nhà nước của ngành y tế.

-  Đối với người dânMục đích là để người dân thuận lợi hơn khi có nhu cầu sử dụng các dịch vụ khám chữa bệnh; dễ dàng tương tác với ngành y tế để phản ánh/phản hồi, để được hướng dẫn/thực hiện; hướng đến người dân tự quản lý được sức khoẻ của mình với sự kết nối từ xa những thông số sức khoẻ với các cơ sở khám, chữa bệnh ban đầu.

- Đối với các cơ sở khám, chữa bệnh: Mục đích là để đội ngũ bác sĩ, nhân viên y tế tiếp cận được các kiến thức khoa học mới, kỹ thuật mới; giảm thiểu các nguy cơ sai sót ảnh hưởng đến chất lượng và an toàn người bệnh; giảm bớt được các thủ tục hành chính, giấy tờ trong bệnh viện; bác sĩ tuyến dưới có thể kết nối dễ dàng với bác sĩ tuyến trên để hội chẩn, để được tư vấn và đưa ra các quyết định điều trị.

-  Đối với công tác quản lý nhà nước của ngành y tế: Hướng đến triển khai hiệu quả công tác điều phối, giám sát, cảnh báo, dự báo đối với hoạt động của các cơ sở khám, chữa bệnh và các cơ sở y tế khác; đẩy mạnh cải cách hành chính của ngành y tế, triển khai hiệu quả dịch vụ công trực tuyến.

Muốn làm được điều đó, cần phải có hệ thống giải pháp đồng bộ, khả thi để tiến hành kiến tạo y tế thông minh. Trước hết, cần phải xác định các “điều kiện cứng” khi tiến hành xây dựng y tế thông minh. Đó là: (1) Hạ tầng cứng (Hạ tầng cứng đầu tư hay thuê, phải tính toán đảm bảo hiệu năng xử lý, đảm bảo an toàn trong vận hành không bị sự cố khi gặp lỗi đơn, đảm bảo tính thiết kế kết nối song song và dự phòng). Hạ tầng cứng đủ mạnh để ứng dụng các ứng dụng quản lý bệnh viện trên nền tảng IP (Internet protocol) như: tổng đài IP, hệ thống gọi điều dưỡng, nhận diện người bệnh, quản lý âm thanh, ánh sáng, …; hạ tầng kết nối các thiết bị di động, giúp nhân viên y tế, thiết bị y tế tương tác chủ động với người bệnh; (2) Nhân lực chuyên trách về công nghệ thông tin và truyền thông (nhân lực ICT phục vụ ngành y tế, ngoài kiến thức công nghệ thông tin thì cần phải có kiến thức và am hiểu về các quy trình, nghiệp vụ y tế, kiến thức về bảo hiểm y tế và các vấn đề liên quan).

Sau đây là các nhóm giải pháp cần được nghiên cứu và áp dụng trong triển khai y tế thông minh:

(1) Hoàn thiện hệ thống phần mềm quản lý bệnh viện[1] ( Chuẩn hóa cở sở dữ liệu, trục thông tin quản lý bệnh viện đảm bảo cung cấp được các thông tin quản lý bệnh viện, đáp ứng các yêu cầu phát sinh trong quá trình quản lý điều hành bệnh viện. Đáp ứng yêu cầu kết nối các hệ thống khác thông qua chuẩn dữ liệu HL7[2]; Đáp ứng đầy đủ thông tin liên thông bảo hiểm y tế, cổng dữ liệu bảo hiểm y tế, đảm bảo tính chính xác của dữ liệu (theo Quyết định số 4210/QĐ-BYT)[3];

(2) Triển khai hệ thống quản lý xét nghiệm (LIS)[4] (Chuẩn hóa danh mục xét nghiệm, liên kết với danh mục chỉ định và danh mục viện phí của phần mềm HIS[5]; Kết nối và nhận dữ liệu các chỉ định của bác sĩ từ phần mềm HIS; Kết nối dữ liệu kết quả xét nghiệm trực tiếp từ các máy xét nghiệm, dữ liệu kết quả được thẩm định và lưu trữ vào phần quản lý kết quả xét nghiệm LIS; Trả kết quả về hệ thống HIS);

(3) Triển khai hệ thống lưu trữ và luân chuyển hình ảnh (PACS)[6] và quản lý thông tin chẩn đoán hình ảnh (RIS)[7], gồm (Tương tự như hệ thống LIS, có khả năng tương tác với hệ thống HIS (nhận dữ liệu và trả dữ liệu cho HIS); Lưu trữ và luân chuyển dữ liệu hình ảnh theo chuẩn DICOM, giao tiếp dữ liệu với hệ thống HIS bằng chuẩn HL7);

(4) Tích hợp hệ thống HIS, LIS, PACS/RIS, tức là kết nối các dữ liệu từ HIS, LIS, PACS/RIS cho từng hồ sơ bệnh nhân;

(5) Xây dựng bệnh án điện tử (Số hoá hồ sơ bệnh án dựa trên chuẩn dữ liệu y tế HL7 đảm bảo liên thông dữ liệu giữa các cơ sở y tế; Số hoá kho hồ sơ bệnh án đảm bảo lưu trữ và phục vụ công tác nghiên cứu khoa học; Nghiên cứu và chọn lựa công nghệ chữ ký số, tiến đến bệnh án điện tử);

(6) Ứng dụng các công nghệ nhận dạng mới (nhận diện người bệnh, tránh nhầm lẫn thông tin người bệnh, định vị người bệnh trong quá trình điều trị tại bệnh viện qua các công nghệ nhận dạng như: mã vạch, điện thoại thông minh, giọng nói, khuôn mặt, vân tay, RFID (Radio Frequency Identification),…;

(7) Ứng dụng các thuật toán về máy học (Machine Learning), tiến hành xây dựng các hệ thống nhắc tự động, hệ thống cảnh báo, dự báo thời gian chờ khám, chờ xét nghiệm, hướng dẫn người bệnh nhằm tránh ùn tắc cục bộ trong quá trình khám bệnh, chuyển lời đọc thành văn bản trong hồ sơ bệnh án điện tử,… bằng nguồn dữ liệu sẵn có của bệnh viện và công nghệ dựa trên các thuật toán về máy học;

(8) Nghiên cứu và ứng dụng các phần mềm trí tuệ nhân tạo vào hoạt động chẩn đoán và điều trị (Trí tuệ nhân tạo có thể cung cấp thông tin hỗ trợ cho nhân viên y tế trong công tác chẩn đoán và điều trị từ việc phân tích và tổng hợp dựa trên kho dữ liệu lớn (Big data) về dữ liệu y khoa, phác đồ điều trị của bệnh viện và trên thế giới; Trí tuệ nhân tạo có thể cung cấp những thông tin hữu ích đến người bệnh giúp tìm kiếm thông tin cơ bản về bệnh);

(9) Xây dựng ứng dụng tương tác với người bệnh trên thiết bị di động, web (Xây dựng các ứng dụng tương tác với người bệnh thông qua thiết bị di động, web nhằm kết nối và cung cấp thông tin với người bệnh khi cần thiết; Xây dựng các ứng dụng tương tác và trả lời người bệnh (IP: Internet Protocol), ứng dụng công nghệ máy học và trí tuệ nhân tạo AI;

(10) Đảm bảo an toàn thông tin (xây dựng các quy trình, quy định, các chính sách liên quan đến vận hành hệ thống thu thập số liệu phần mềm quản lý bệnh viện từ khâu tiếp nhận bệnh đến xuất viện (nội trú, ngoại trú), kết thúc lần khám; sử dụng và khai thác thông tin bệnh án điện tử,…)[8].

TS. PHẠM ĐI

 



[1] Hospital Information System gọi tắt là HIS.

[2] Tiêu chuẩn HL7 (Health Level 7) là tiêu chuẩn quốc tế cung cấp giao thức chuẩn về quản lý, trao đổi và tích hợp dữ liệu y tế giữa các hệ thống thông tin y tế nhằm hỗ trợ các hoạt động y tế. Tham kiến: Thông tư 53/2014/TT-BYT ngày 29 tháng 12 năm 2014 của Bộ Y tế về Quy định điều kiện hoạt động y tế trên môi trường mạng.

[3] Quyết định số 4210/QĐ-BYT ngày 20 tháng 9 năm 2017 của Bộ Y tế về việc quy định chuẩn và định dạng dữ liệu đầu ra sử dụng trong quản lý, giám định và thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế.

[4] Laboratory Information System viết tắt là LIS. Phần mềm LIS cho phép tra cứu thông tin người bệnh, bệnh phẩm theo nhiều tiêu chí như mã bệnh phẩm, tên bệnh phẩm, trạng thái, thời gian, lịch sử thực hiện xét nghiệm và cho phép hiển thị, in kết quả tìm kiếm. LIS cho phép quản lý danh sách, thông tin chi tiết các chỉ định và kết quả xét nghiệm đã thực hiện; quản lý được trạng thái của quá trình xét nghiệm như đã lấy/chưa lấy mẫu, đã xét nghiệm/chưa xét nghiệm, đã có kết quả/chưa có kết quả.

[5] Hospital Information System là phần mềm quản lý bệnh viện. Hiện nhiều quốc gia trên thế giới đã áp dụng nhiều lớp (kiểu, trình độ quản lý) phần mềm theo các mức độ khác nhau: Nhóm cơ bản (Basic Hospital Information System - BHIS); Nhóm trung bình (Intermediate Hospital Information System- IHIS) và nhóm tổng thể (Total Hospital Information System - THIS).

[6] Picture Archiving and Communication Systems – PACS, là hệ thống lưu trữ và truyền hình ảnh cho phép lưu trữ hình ảnh một cách an toàn và kinh tế, đồng thời truyền dữ liệu giúp cho việc hội chẩn, chẩn đoán, điều trị, đào tạo và nghiên cứu từ xa.

[7] Radiology Information System – RIS, là hệ thống phần mềm được triển khai tại Khoa chẩn đoán hình ảnh. RIS bao gồm các thành phần và có tổ chức gần giống với HIS nhưng ở quy mô nhỏ hơn với các chức năng: quản lý thông tin bệnh nhân, quản lý danh sách bệnh nhân đến chụp - chiếu tại khoa, số liệu chụp - chiếu và kết quả chẩn đoán... Thông tin dữ liệu của RIS gồm dạng Text và dạng ảnh theo tiêu chuẩn DICOM được lấy từ các thiết bị chiếu chụp: X-quang, cắt lớp, siêu âm, cộng hưởng từ…

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

PHẦN TẦNG XÃ HỘI: NỘI DUNG, BẢN CHẤT, TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN VÀ VẬN DỤNG VÀO THỰC TIỄN CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY

GIA ĐÌNH VÀ CHỨC NĂNG CỦA GIA ĐÌNH

CƠ CẤU DÂN SỐ THEO GIỚI TÍNH, ĐỘ TUỔI VÀ PHÂN BỐ DÂN CƯ