QUY HOẠCH VÀ QUẢN LÝ QUY HOẠCH ĐÔ THỊ TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 

QUY HOẠCH VÀ QUẢN LÝ QUY HOẠCH ĐÔ THỊ TRONG TÌNH HÌNH MỚI

1. Khái quát về quy hoạch đô thị

1.1. Khái niệm quy hoạch đô thị

Đối với một đô thị, việc hành thành một triết lý phát triển và sau đó là công tác quy hoạch đô thị, quản lý quy hoạch đô thị là những công việc hệ trọng bởi nó quyết định đến xu hướng, tính chất, quy mô, diện mạo của đô thị đó. Trong một đô thị, không gian đô thị, không gian kiến trúc, cảnh quan cũng như hệ thống hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội là những nhân tố cấu thành chủ yếu. Do đó, việc bố trí, sắp xếp một cách hợp lý, hài hòa, khoa học để phát triển một cách bền vững là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục của các nhà quản lý đô thị, chính quyền đô thị.

Hiện có nhiều khái niệm về quy hoạch đô thị nhưng nội hàm của nó chủ yếu là thể hiện sự phân bố, bố trí một cách hợp lý các nguồn lực để phù hợp với triết lý, tính chất, quy mô và xu hướng phát triển của đô thị ở thời điểm hiện tại và tương lai. Điều 3, Luật Quy hoạch đô thị của Việt Nam xác định: “Quy hoạch đô thị là việc tổ chức không gian, kiến trúc, cảnh quan đô thị, hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình hạ tầng xã hội và nhà ở để tạo lập môi trường sống thích hợp cho người dân sống trong đô thị, được thể hiện thông qua đồ án quy hoạch đô thị[1].

Như vậy, nội dung của quy hoạch đô thị là tổ chức, sắp xếp không gian, kiến trúc, cảnh quan, hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội; mục đích của quy hoạch đô thị là tạo lập môi trường sống thích hợp; chủ thể quy hoạch là cơ quan hữu quan nhà nước và người dân; sản phẩm thể hiện của công tác quy hoạch là các đồ án quy hoạch, là căn cứ để tiến hành kiến tạo, xây dựng và quản lý đô thị.

1.2. Đặc trưng của quy hoạch đô thị

Quy hoạch đô thị là một hoạt động mang tính pháp lệnh, là một quá trình phải tuân thủ theo các nguyên tắc khoa học, dựa trên tri thức chuyên ngành và tổng hợp; là định hướng hành động và các hành vi của chính quyền đô thị cũng như các cơ quan có chức năng quản trị đô thị, nhất là hoạt động xây dựng, kiến thiết đô thị. Như đã đề cập, đối với một xã hội dân chủ, một nhà nước của dân, do dân, vì dân thì hoạt động và quá trình quy hoạch đô thị cần phải có sự tham gia của nhân dân và các chủ thể xã hội khác để nâng cao tính tham gia, tính hợp lý và tính khoa học. Quy hoạch đô thị bao trùm nhiều lĩnh vực, nhiều hạng mục, nhiều yếu tố để phục vụ cho quá trình kiến thiết đô thị cũng như xu hướng phát triển đô thị. Quy hoạch đô thị hiện đại có những tính chất, đặc trưng cơ bản sau

Thứ nhất, tính pháp lệnh-pháp lý và uy quyền. Quy hoạch đô thị có liên quan trực tiếp đến lợi ích thiết thân của người dân và các chủ thể khác trong xã hội đô thị. Hướng đến “tạo lập môi trường sống thích hợp cho người dân sống trong đô thị” tức là đạt được mục tiêu công, sản phẩm công và phục vụ công. Trong quá trình quy hoạch đô thị, chính quyền đô thị (với tư cách là chủ thể chịu trách nhiệm chính về công tác quy hoạch) cần phải lắng nghe ý kiến của nhân dân và đảm bảo lợi ích của thị dân, tạo cơ chế và cỗ vũ sự tham gia của nhân dân để họ góp tiếng nói vào hoạt động quy hoạch. Một khi đồ án quy hoạch đã được thống nhất và công bố thì đó là “sức mạnh tổng hợp” thể hiện ý chí, nguyện vọng, mục tiêu của nhà nước và nhân dân (ý Đảng, lòng dân), lúc đó hiệu lực pháp luật của đề án quy hoạch được xác định, tính pháp lý được xác lập. Tức là tất cả người dân, pháp nhân và tổ chức khác phải tôn trọng, tuân thủ, phục tùng; vừa thể hiện tính nhất quán, vừa thể hiện sức mạnh uy quyền[2].

Thứ hai, tính chiến lược. Công tác quy hoạch đô thị vừa phải giải quyết các vấn đề hiện thực của đô thị nhưng phải suy nghĩ đến yêu cầu phát triển trong tương lai của thành phố. Đương nhiên, cần phải thừa nhận một điều ra, giải quyết vấn đề trước mắt đã khó, xác định các vấn đề (có thể xảy ra và tiên liệu các xu thế, khuynh hướng) trong tương lai là điều không dễ dàng, nếu không muốn nói là rất khó khăn. Một điều đơn giản, lý tính và khả năng “tiên tri” của con người (trong đó có các nhà lãnh đạo, quản lý đô thị) là có hạn; khả năng (kỹ năng) phân tích các vấn đề hiện tồn, nắm bắt và phân tích các dữ liệu thực chứng để tìm kiếm các mối tương quan, dự báo các xu hướng có thể phát sinh càng là công việc đòi hỏi tính chuyên môn khoa học cao, do đó dự báo, xác định xu hướng phát triển của thành phố trong tương lai thể hiện qua công tác quy hoạch là một nan đề (vấn đề nan giải). Nói một cách dễ hiểu, dựa vào các kinh nghiệm và tri thức của hiện tại để phán đoán, tiên liệu vấn đề trong tương lai là việc khó. Thế nhưng, nếu tiệm cận đến khoa học, dựa vào các công cụ và tri thức khoa học (nhất là khoa học thực chứng, khoa học dự báo) thì chí ít chúng ta cũng có thể nắm bắt được xu hướng chủ đạo của một quá trình, một sự kiện, một hiện tượng, vấn đề xã hội, từ đó định hướng được trong công tác quy hoạch đô thị. Một đồ án quy hoạch sẽ thiếu tính thuyết phục và ít có giá trị khi bản thân nó thiếu tính định hướng chiến lược, thiếu tầm nhìn.

Thứ ba, tính tổng thể - tổng hợp. Đô thị là một hệ thống lớn, phức hợp gồm nhiều thành tố tổ thành (tiểu hệ thống) như kinh tế, môi trường, hạ tầng, văn hóa, lối sống,... mỗi một “tiểu hệ thống” đều có chức năng, nhiệm vụ của nó nhưng phải “tương thích” với hệ thống “mẹ”. Khu thực hiện công tác quy hoạch, vì nhiều lý do khác nhau (kiến thức, sự tham gia, lợi ích,....) mà thông thường chúng ta bị “che mờ” hay “bỏ quên” một số khía cạnh, lĩnh vực. Do đó, yêu cầu trong công tác quy hoạch là phải có tính tổng hợp, tính hệ thống, tính chỉnh thể, tính liên đới, tính hữu cơ. Chẳng hạn, khi chúng ta tiến hành quy hoạch không gian đô thị (kết cấu không gian), phong cách kiến trúc, bố cục ngành nghề, công viên cây xanh thì phải suy nghĩ đến yếu tố phát triển kinh tế-xã hội, đến địa lý-nhân văn, thậm chí đến lĩnh vực (nhu cầu) tôn giáo-tín ngưỡng. Ngoài ra, tính tổng thể - tổng hợp còn yêu cầu phải khớp nối với địa phương, vùng và các đô thị lân cận; giữa các “tiểu hệ thống” với nhau, chẳng hạn hệ thống sân bay, bến cảng phải khớp nối được với đường giao thông trên bộ như hệ thống metro, hệ thống xe bus công cộng,....; khớp nối giữa không gian mặt đất, không gian trên cao với không gian ngầm; khớp nối giữa các tòa nhà chung cư với hệ thống giao thông (sức tải của giao thông),...

Thứ tư, tính ổn định. Quy hoạch đô thị mang tính pháp lý và là một “văn kiện” mang tính định hướng, là “cương lĩnh” cho hành động kiến tạo, xây dựng, phát triển đô thị; quyết định đến xu hướng phát triển, diện mạo và vị thế của thành phố trong tương lai. Do đó, quy hoạch đô thị mà cụ thể là các đồ án quy hoạch phải mang tính ổn định (chí ít là trong một khoảng thời gian đủ dài – tính chiến lược), tránh “sửa đi, sửa lại”, quy hoạch một đàng làm một nẻo[3], nhiều bất cập trong toàn bộ tiến trình quy hoạch đô thị khiến cho công tác xây dựng đô thị không theo định hướng, thiếu tầm nhìn, thậm chí lộn xộn[4]. Đương nhiên, chúng ta cũng cần bình tĩnh nhìn nhận, quy hoạch đô thị không phải là nhất thành bất biến (có thể bổ sung, sửa đổi, thay đổi) mà cũng có thể điều chỉnh để phù hợp với những vấn đề mới nảy sinh (chẳng hạn, trước khi phát sinh đại dịch COVID-19, khó có thể lường trước được một vấn đề dịch bệnh toàn cầu như thế trong công tác quy hoạch các phân khu chức năng về lĩnh vực y tế công đô thị - chí ít là quỹ đất xây dựng bệnh viện dã chiến phòng chống dịch bệnh). Thế nhưng, một đồ án quy hoạch sẽ mất giá trị khi liên tục điều chỉnh, thay đổi, vừa khó khăn trong hoạt động kiến tạo đô thị, vừa mất niềm tin của nhân dân đối với hoạt động quy hoạch và quản lý quy hoạch đô thị.

1.3. Vai trò của quy hoạch đô thị

Như đã đề cập ở trên, một đô thị muốn phát triển một cách bền vững không thể không thực hiện công tác quy hoạch. Nói cách khác, quy hoạch là “kim chỉ nam” cho hành động kiến tạo đô thị, là phương hướng phát tiển trong tương lai của thành phố. Vai trò của công tác quy hoạch thể hiện ở một số bình diện cụ thể sau”

Một là, khai thác, sử dụng hợp lý nguồn lực đất đai. Quy hoạch đô thị là căn cứ, cơ sở nền tảng cho hoạt động quản lý và xây dựng đô thị. Một đề án, đồ án quy hoạch có giá trị và thông minh luôn thể hiện sự tiết kiệm các nguồn lực, nhất là nguồn lực đất đai – một nguồn lực có giá trị và hạn hữu của đô thị. Khai thác nguồn lợi đất đai cho các hoạt động kiến tạo đô thị, phục vụ nhu cầu phát triển đô thị luôn căn cứ vào đồ án quy hoạch. Do đó, một đồ án quy hoạch khoa học, phù hợp giúp cho hoạt động quản lý đất đai tốt hơn; định hướng tốt cho hoạt động khai thác, sử dụng hợp lý nguồn lực đất đai; hạn chế tối đa việc lãng phí, sai mục đích nguồn lực quý giá – đất đai đô thị.

Hai là, hình thành bố cục đô thị một cách hợp lý. Căn cứ vào triết lý, mục tiêu phát tiển kinh tế-xã hội cũng như các nguồn lực hiện hữu, năng lực sản xuất để bố cục và bố cục lại “bức tranh” đô thị một cách hợp lý, khoa học. Đó là nhiệm vụ của quy hoạch đô thị. Để làm được điều đó, cần phải tiến hành nghiên cứu, khảo sát, nắm bắt thực trạng của từng lĩnh vực như điều kiện tự nhiên, điều kiện xã hội, an ninh-quốc phòng,… để xác định tính chất, quy mô, hình thái phát triển đô thị; lựa chọn phương hướng phát triển thành phố trong tương lai.

Ba là, nâng cao hiệu quả, hiệu ứng tổng hợp đô thị. Quy hoạch đô thị sẽ giúp tối ưu hóa không gian, kết cấu, bố cục và góp phần chế ước các hành vi vi phạm đến lợi ích công cộng, đến công năng tổng thể của đô thị; cho phép và cỗ vũ hành vi tích cực trong xây dựng cơ sở hạ tầng đô thị; giải quyết, hòa giải các xung đột (nhất là xung đột lợi ích giữa các nhóm, chủ thể trong đô thị); định hướng hướng đi cho đô thị theo hướng ít can thiệp thô bạo đến các nguồn lực và lợi ích chính đáng của nhân dân. Trong đó, điều hòa lợi ích tổng thể để nâng cao hiệu quả tổng hợp cho thành phố: giữa trước mắt và lâu dài; giữa các bộ phận chức năng với tổng thể thành phố; giữa kinh tế với xã hội và môi trường; giữa lợi ích tư và lợi ích công,...

Bốn là, cân bằng hệ sinh thái đô thị. Hệ sinh thái đô thị là một hệ thống động và có mối liên hệ liên đới nhau, tổ thành môi trường tồn tại của một thành phố. Nếu một khu vực (của thành phố) mà mật độ công xưởng, nhà máy quá dày đặc; mật độ công trình kiến trúc quá cao; mức tập trung dân cư quá lớn,... thì sẽ kéo theo hệ lụy về giao thông, nước thải, không khí và nhiều vấn đề xã hội khác nảy sinh. Lúc đó ô nhiễm môi trường là điều khó tránh khỏi, mất cân bằng hệ sinh thái là đương nhiên; năng lực phục vụ (điện, nước,...) sẽ khó đáp ứng. Do đó, quy hoạch mà đặc biệt là quy hoạch môi trường đô thị có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ môi trường, cân bằng hệ sinh thái đô thị.

Năm là, bảo đảm giao thông thông suốt. Hệ thống giao thông được ví như mạch máu của cơ thể đô thị. Trong công tác quy hoạch đô thị thì quy hoạch mạng lưới giao thông (đường giao thông, phương tiện giao thông; giao thông tĩnh, giao thông động; giao thông cá nhân, giao thông công cộng; giao thông nội, giao thông ngoại,...) đóng vai trò hết sức quan trọng. Một trong những “căn bệnh” của đô thị (vừa và lớn) ở nước ta (và không ít các quốc gia đang phát triển khác) là vấn nạn tắc đường, kẹt xe (ở đây không nói đến hiện tượng ùn tắc thông thường trong giờ cao điểm). Do đó, công tác quy hoạch (tùy theo triết lý và khả năng của nhà quản lý đô thị) giao thông đô thị thường phải đi trước, có tầm nhìn để định hướng phát triển và tránh đi hiện tượng tắc đường nghiêm trọng. Thông thường, các đô thị lớn thì hướng quy hoạch đa trung tâm, quy hoạch kiểu “đô thị phân tán” để bố cục lại mạng lưới giao thông. Quy hoạch không tốt sẽ gây nên hiện tượng tắc đường thường xuyên làm tổn hại đến sức khỏe, của cải của nhân dân và xã hội. Ngược lại, nếu quy hoạch có tầm nhìn, khoa học thì sẽ là “bùa hộ mệnh” cho bài toán giao thông đô thị.

Sáu là, xây dựng hình tượng, sức hấp dẫn cho đô thị. Mỗi đô thị có văn hóa, lối sống, lịch sử và vị trí tọa lạc khác nhau và như thế có những nét độc đáo, sức hấp dẫn riêng. Quy hoạch đô thị vừa bảo vệ và tô đậm thêm những lớp trầm tích lịch sử, khơi gợi những nét văn hóa được chạm khảm vào trong đời sống xã hội để gia tăng diện mạo và khắc họa hình tượng độc đáo của chúng. Có những thành phố khi đặt chân đến một lần đã để lại cho du khách một ấn tượng khó quên bởi hệ thống kiến trúc, mảng cây xanh hay lối sống độc đáo của thị dân. Có được điều đó không thể không nói đến công tác quy hoạch và định hướng phát triển. Quy hoạch không tốt không những không tạo nên hình tượng mà còn có thể “băm nát” những giá trị lịch sử, nét văn hóa và các nguồn lực, hệ sinh thái đô thị[5].

2. Lý luận về quy hoạch đô thị

Sau khi hình thành các đô thị cổ đại, nhân loại bắt đầu nghiên cứu, tìm kiếm thực tiễn về công tác quy hoạch. Lý luận quy hoạch đô thị bắt đầu từ thực tiễn và quay về chỉnh đạo, định hướng các hành động thực tiễn ở một tầm cao mới, bước tiếp mới. Lý luận quy hoạch đô thị có bước đi và lịch sử phát triển của nó, sau đây là một số giai đoạn phát triển chủ yếu.

2.1. Lý luận về quy hoạch đô thị cổ đại

Hy Lạp cổ đại và La Mã cổ đại là các quốc gia có tư tưởng quy hoạch đô thị từ rất sớm, các thành phố bàn cờ tại Miletus của Hyppodamus là điển hình đặc trưng của triết lý quy hoạch đô thị Hy Lạp cổ đại. Thành phố được chia theo các lô phố với kích thước 47,2m x 25,4m, theo hệ thống đường ô cờ với hai hướng chính nam-bắc và đông-tây. Tuyến đường đông-tây rộng 7,5 m đi qua trung tâm có thể đi xe, tuyến đường bắc-nam rộng 3-4m có độ dốc lớn chủ yếu dành cho đi bộ. Trong thành phố có các trung tâm, nơi tập trung các đền thờ và nhà ở của các quan tòa cao cấp, và các quảng trường chính, nơi tập trung các hoạt động thương nghiệp và hành chính của thành phố. Suốt trong mấy thế kỷ trước công nguyên do chính trị cổ Hy Lạp tiến bộ nên đô thị Hy Lạp cổ đại được phát triển mạnh mẽ, đã hình thành quan điểm thành phố nhà nước lý tưởng cơ quy mô 10.000 dân được chia thành ba phần và 3 cấp theo hệ thống luật lệ[6].

Trong thời kỳ Trung cổ, triết lý và tư tưởng quy hoạch đô thị Châu Âu bị chi phối bởi yếu tố thần học, thần quyền và đẳng cấp. Thông thường, trung tâm các thành phố là các giáo đường và tòa thị chính; mật độ nhà ở khu trung tâm rất dày đặc, đường sá thường nhỏ hẹp. Các khu vực ngoại ô và vùng nông thôn lân cận thành phố, nơi có môi trường trong lành và phong cảnh hữu tình, là nơi là các lãnh chúa phong kiến và tầng lớp quy tập xây dựng các thôn trang hoặc nhà ở kiểu thành quách.

Trong thời kỳ Phục Hưng (từ thế kỷ 15-16), sợi xích thần quyền bị phá bỏ và thay vào đó là tư tưởng chủ nghĩa nhân văn. Lý luận quy hoạch đô thị cũng chịu tác động sâu sắc: nhân tính thay thế bởi thần tính; nhân quyền thay thế bởi thần quyền. Quảng Trường Thánh Marco (St. Mark Square) ở thành phố Venice là một minh chứng, đại diện nổi bật cho kiểu quy hoạch đô thị theo triết lý của chủ nghĩa nhân văn của thời kỳ này. Tư tưởng quy hoạch đô thị nhân văn đã bắt đầu dẫn dắt con người đến “thành phố lý tưởng”. Trong tác phẩm “Thành phố lý tưởng”, một kiến trúc sư người Ý là Filarete[7] đã thiết kế trung tâm thành phố thành một quảng trường hình lục giác, đường xuyên tâm của nó được kết nối với 3 đường vành đai.

2.2. Lý luận quy hoạch đô thị thời cận đại

Cuộc cách mạng công nghiệp cận đại đã khiến cho làn sóng di cư từ nông thôn đến đô thị rất lớn, hàng ngàn người di chuyển đến thành phố để tìm việc làm, sinh kế và chỗ ở, hình thành làn sóng thứ nhất về tiến trình đô thị hóa và thúc đẩy quá trình phát triển đô thị. Cùng với tốc độ đô thị hóa ngày một gia tốc thì các vấn đề đô thị cũng theo đó mà nảy sinh một cách trầm trọng: ùn tắc và ách tắc giao thông, môi trường ô nhiễm, ngập úng, khí thải. Đó là những “căn bệnh đô thị”. Để giải quyết và cải thiện môi trường sinh thái đô thị, bắt đầu từ niên đại 60 của thế kỷ XIX, triết lý và lý luận về quy hoạch đô thị đã chú trọng về đề xuất các mảng xanh đô thị, hình thành các khu công viên cây xanh chiếm tỷ trọng nhất định trong một thành phố. Năm 1859, kiến trúc sư cảnh quan người Mỹ là Frederick Law Olmsted[8], đã thiết kế hàng loạt các công viên công cộng nổi bật, bắt đầu với công viên Trung tâm thành phố New York, sau đó là các công viên ở thành phố Buffalo, Detroit, Chicago và Boston. Hệ thống công viên hình thành đã góp phần giảm thiểu mật độ các khu nhà ở, cải thiện đáng kể môi trường sinh thái đô thị. Sau này, trong tiến trình quy hoạch đô thị thường chú trọng đến công tác quy hoạch công viên, cây xanh, trở thành triết lý quy hoạch đô thị và phân bố các khu chức năng tương ứng.

Năm 1882, Arturo Soria y Mata[9], kiến trúc sư người Tây Ban Nha đã đề xuất mô hình “thành phố chuỗi” (thành phố dải, thành phố tuyến tính,...). Mata cho rằng thành phố chuỗi có một số ưu điểm sau: (1) các chuỗi đô thị được kiến tạo dọc các tuyến giao thông, một bên dành cho các khu công nghiệp, bên còn lại là khu dân cư, không tác động và ảnh hưởng nhiều đến đời sống sinh hoạt của các khu dân cư; (2) đại bộ phận dân cư đều di chuyển (giao thông) hai bên “tuyến” nên có thể tiết kiệm thời gian; (3) do chiều ngang của đô thị chuỗi không lớn nên sự liên hệ qua lại, giao thông giữa khu vực đô thị với nông thôn được tiến hành thuận lợi; (4) các chuỗi đô thị sẽ được kết nối lại với nhau từ đó hình thành nên mạng lưới, hệ thống đô thị lớn. Lý luận về “đô thị chuỗi” có ảnh hưởng tương đối lớn trong quy hoạch và kiến tạo các đô thị ở tây Âu thời bấy giờ.

Cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, xuất phát từ ý tưởng và nền tảng từ của triết lý “thành phố lý tưởng” từ thời kỳ Phục Hưng, Ebenezer Howard[10] đã đề xuất ý tưởng một mô hình thành phố có sự kết hợp giữa nông thôn và đô thị là “thành phố vườn” (Garden City). Cuốn sách nổi tiếng của ông là Garden Cities of Tomorrow (Thành phố vườn của tương lai) được ấn bản năm 1898 đã “phá vỡ” ý niệm trước đó về đối lập không gian giữa đô thị và nông thôn trong quy hoạch đô thị, trở thành một ý niệm, một học thuyết mới về quy hoạch đô thị: “thành phố vườn”.

Ebenezer Howard đã phân tích thành phố có một lực hút lớn kiểu nam châm, mà ở đó mỗi người dân là một cái kim. Howard coi thành phố là thanh nam châm thứ nhất, nông thôn là nam châm thứ hai, còn sáng tạo các “Thành phố vườn” của ông là thanh nam chậm thứ ba nhằm bảo đảm việc san sẻ bớt dân số đô thị đông đúc ở các thành phố lớn. Theo Howard thì thành phố tuy có thể  có tiện nghi tốt và hoạt động văn hoá phong phú nhưng nông thôn lại có ưu thế về đời sống lành mạnh và yên tĩnh. Vì vậy, chỉ có thành phố vườn của ông mới có cả ưu điểm của đô thị lớn lẫn lợi thế của nông thôn, và thành phố vườn ra đời sẽ là đối tượng dung hoà được những mâu thuẫn giữa đô thị và nông thôn, bảo đảm cho con người sống một cuộc sống hài hoà. Theo Howard, bằng việc khống chế từ tính đối với các đô thị lớn mới triệt để bỏ được sự bành trướng vô tổ chức, mù quáng của đô thị, và cũng chỉ bằng việc tạo một cơ cấu thống nhất toàn bộ đất đai của đô thị mới loại bỏ được nạn đầu cơ.

Quan niệm của Howard được xem là chìa khoá để mở cửa cho sự khủng hoảng của đô thị tư bản-khi mà con người nhận thức ra được mặt trái của sự phát triển quá mức cuả thành phố công nghiệp thời bấy giờ. Giới kiến trúc nhiệt liệt chào đón ý niệm “thành phố vườn” như một giải pháp lý tưởng giúp họ tìm lối đi cho hoạt động xây dựng đô thị lúc ấy đang bế tắc về phương hướng. Ảnh hưởng của nó khá sâu và được phát triển thêm về lý luận cũng như được ứng dụng vào thực tiễn xây dựng ở nhiều quốc gia.

Theo Howard thì, các “thành phố vườn” có dạng hình tròn, hướng tâm. Mỗi thành phố vườn đáp ứng khoảng 32.000 dân với diện tích khoảng 400ha, còn vòng ngoài 2000ha nữa là khu cây xanh “vĩnh cửu”, là đất dùng vào mục đích nông nghiệp, tổng cộng mỗi vùng đô thị sẽ chiếm 2400ha. Khi phát triển vừa tới quy mô nói trên thì thôi không tăng dân số nữa, nếu cần thì xây dựng thêm đô thị khác. Với mỗi 400ha đất “nội thị” đó có một loạt các vòng tròn đồng tâm và được chia đều ra các phần bằng nhau bằng 6 con đường lớn, rộng 36m xuyên qua thành phố xuất phát từ trung tâm, chia thành phố thành sáu phần đều nhau, đó là các khu ở. Ở chính tâm, một không gian vòng tròn khoảng 2,2ha được dành làm một vườn hoa đẹp. Các công trình công cộng lớn được đặt quanh vườn hoa này như toà thị chính, nhà hoà nhạc và hội họp, nhà hát, thư viện, bảo tàng, nhà triển lãm hội hoạ và bệnh viện... Một tuyến xe lửa sẽ được chạy vòng quanh phía ngoài để chở hàng đến các nhà máy, tránh được hiện tượng các xe tải chạy xuyên qua thành phố. Vành ngoài của thành phố vườn được đặt nhà máy, xí nghiệp...[11].  Hiện tại, lối kiến trúc và kiểu quy hoạch của nhiều thành phố trên thế giới đã thiết kế theo phong cách “thành phố vườn” của Howard, có thể kể đến là thành phố Sheffield (Anh), thành phố Winston-Salem  (Mỹ), thành phố Cairns (Úc), thủ đô Canberra (Úc), Singarore,...

2.3. Lý luận về quy hoạch đô thị hiện đại

Sự đột phá về lý luận đối với quy hoạch đô thị bắt đầu từ thế kỷ XX với lý thuyết cấu trúc-chức năng[12]. Năm 1910, kiến trúc sư người Pháp là Tory Tanner đã tiến hành quy hoạch đô thị theo các phân khu chức năng: khu công nghiệp, khu giáo dục, khu đường sắt, khu cư trú, khu bến cảng,... Đến năm 1915, trong cuốn sách “Sự tiến hóa của các thành phố”[13], Patrick Geddes[14] là người dầu tiên đề xuất trong quy hoạch một thành phố phải tính đến phân khu kinh tế và cho rằng, công tác quy hoạch phải tuân thủ các nguyên tắc, tiến trình từ điều tra (survey) -phân tích (analysis) - chế định chính sách quy hoạch (plan).

Thông qua việc phân tích “quá trình tiến hóa của đô thị”, Patrick Geddes đã đưa ra nhận xét khá độc đáo: sự phi tập trung hóa (decentralization) các đô thị lớn ra các khu vực ngoại thị (mà bây giờ người ta còn gọi là hiện tượng ngoại thị hóa – suburbanization) sẽ dẫn tới sự kết dính các đô thị nhỏ thành những kết tụ đô thị (urban agglomerations) mà ông gọi là conurbations (vùng đô thị hóa). Ông cũng là người đưa ra khái niệm world city (đô thị thế giới) để chỉ những đại đô thị (primate cities) mà tầm quan trọng của chúng về dân số (chung quanh 10 triệu trở lên) kinh tế, văn hóa, kinh doanh, tài chính… vượt ra xa khỏi ranh giới quốc gia và giữ vai trò đầu tàu trong nền kinh tế toàn cầu.

Năm 1922, kiến trúc sư Le Corbusier[15], trong cuốn sách “Thành phố tương lai”[16] đã nhận định rằng, hình mẫu đô thị truyền thống không còn phù hợp khi mà các thành phố ngày càng phình to và trở nên chật chội. Sự chật chội này có thể giải quyết thông qua việc tăng hệ số sử dụng đất bằng việc tăng tầng cao xây dựng. đồng thời giảm mật độ xây dựng nhằm để lại một diện tích xanh đáng kể trên mặt đất. Le Corbusier nhấn mạnh rằng, với những công trình cao tầng, 95% diện tích đô thị sẽ là không gian mở (công viên, quảng trường và đường giao thông). Mục tiêu của Le Corbusier là đạt được mật độ cao, khoảng 2.500 người/hecta đồng thời giành được một diện tích không gian xanh đáng kể. Thứ ba, Le Corbusier, với ý tưởng về những khu dân cư cao tầng và hệ thống đường sắt nội đô, đề xuất sự phân bố đều mật độ khắp thành phố thay vì chỉ tập trung vào trung tâm như trước kia. Cuối cùng, hình thức đô thị mới này, Le Corbusier lập luận, sẽ không chỉ giúp giảm áp lực lên khu trung tâm mà còn phân tán giao thông đều khắp đô thị thay vì tập trung vào hệ thống đường hướng tâm. Ông cũng cho rằng mô hình đô thị mật độ cao mà ông đề xuất sẽ phù hợp với hệ thống giao thông hiện đại bao gồm đường sắt nội đô và đường cao tốc trên cao so với mặt đất nhưng vẫn thấp hơn nhà ở của người dân. Vào những năm 1920, Le Corbusier được coi là cha đẻ của ý tưởng về hệ thống giao thông khác mức, rất lâu trước khi những hệ thống như thế ra đời tại Los Angles và trên khắp thế giới.

Những ý tưởng về đô thị của Le Corbusier, với cách trình bày tới công chúng tương đối cực đoan, không dễ dàng trở thành hiện thực, đặc biệt là vào những năm tháng chiến tranh của nửa đầu thế kỷ 20. Bản thân Le Corbuiser cũng cảm thấy sốt ruột và bối rối với thất bại của bản thân trong việc hiện thực hóa những ý tưởng. Tuy nhiên, ảnh hưởng của ông trở nên mạnh mẽ hơn vào thời kỳ hậu chiến khi châu Âu bước vào giai đoạn tái thiết quy mô lớn[17].

Năm 1922, với tư cách là Tổng cố vấn, Ủy ban quy hoạch Luân Đôn, Vương quốc Anh, kiến trúc sư Raymond Unwin[18], phát triển một cách sáng tạo ý tưởng thành phố lý tưởng của E. Howard và đề xuất mô hình “đô thị vệ tinh”. Mô hình này cũng vẫn phạm một nhược điểm, là lặp lại cấu trúc của mô hình đô thị truyền thống, với các chức năng chính nằm kẹt ở trung tâm, do đó không thể bành trướng, để đáp ứng sự phát triển của đô thị trong tương lai.

Gần cùng một thời điểm, vào năm 1923, Robert Whitten đưa ra một mô hình Đô thị Vệ tinh khác, có nhiều điểm được cải thiện so với mô hình của Unwin, nhưng vẫn là những sơ đồ quy hoạch đồng tâm. Một đơn vị mô hình “Đô thị Vệ tinh” của Whitten gồm có một vệ tinh chính ở trung tâm, với chức năng thương mại, xung quanh là 8 vệ tinh khác, với những chức năng khác nhau. Các không gian cây xanh, được mở rộng ra, nhưng đó là những không gian trong đó không ai được phép xây dựng (non aedificandi), chứ không phải là đất nông nghiệp. Trên cả hai mô hình Đô thị Vệ tinh này, người ta thấy vấn đề giao thông chưa được đặt ra một cách rõ ràng ở quy mô một vùng lớn, và ở quy mô lãnh thổ[19].

Tuy nhiên, cần phải nhấn mạnh rằng, mô hình “Đô thị vệ tinh” đã khắc phục được những vấn đề mà các đô thị lớn (đơn trung tâm) gặp phải là giao thông, môi trường, nhà ở,.. và hướng các đô thị phát triển ra các vùng lân cận, vùng ven. Chịu tác động của lý luận này, nhiều quốc gia trên thế giới như Anh, Pháp, Mỹ, Nhật, Nga, một số nước Đông Âu,... đã kiến tạo nhiều đô thị vệ tinh xung quanh các đô thị lớn hiện hữu. Thành phố Hồ Chí Minh của Việt Nam cũng đã kiến tạo không ít các đô thị vệ tinh, kể cả mô hình thành phố Thủ Đức hiện nay. Cần lưu ý, mối quan hệ qua lại giữa các thành phố lớn (lõi – trung tâm) và các thành phố vệ tinh không còn giữ ở trạng thái một chiều, mà thay vào đó là sự tương tác hỗ trợ chức năng cho nhau để tạo nên sự hoàn thiện hơn về mọi mặt…

Năm 1929, kiến trúc sư, nhà quy hoạch, nhà xã hội học người Mỹ là Clarence Perry[20] đã đề xuất lý luận “đơn vị ở”[21]. Theo quan điểm của C. Perry, các loại xe hơi (xe có động cơ) không nên đi vào các khu dân cư, hình thành ý tưởng chủ đạo trong kiến tạo các “tiểu khu” trong quy hoạch đô thị. Quan điểm  của “Đơn vị láng giềng” là lấy các tuyến đường lộ là “ranh giới” cho các khu dân cư và trong quy hoạch đô thị cần chú ý nguyên tắc: (1) Lấy tiêu chuẩn về quy mô sử dụng đất đô thị và học sinh (tiểu học) khi đến trường không phải “qua đường” là tiêu chí “đơn vị láng giềng”; (2) Một “đơn vị láng giềng” cần hoàn thiện các yêu cầu và nhu cầu thiết yếu phục vụ đời sống hằng ngày của cư dân; (3) Trong “đơn vị láng giềng” có hệ thống giao thông nội bộ và hạn chế các xe cộ bên ngoài “đi xuyên qua”; (4) Bố trí nhà ở cần phải theo một hướng thích hợp và khoảng cách giữa các hộ phải hợp lý.

Một cách tiếp cận và diễn giải khác về “đơn vị ở” là cần phải đảm bảo: (1) Quy mô dân số của một “đơn vị ở” phải đảm bảo tối thiểu cho một trường tiểu học hoạt động; (2) Thương mại được phát triển tại rìa của cộng đồng, nơi giáp ranh với các khu dân cư kế cận và đường giao thông đối ngoại; (3) Công viên và các không gian nghỉ dưỡng, thể dục – thể thao ngoài trời cần được bố trí; (4) Ranh giới của cộng đồng được xác lập rõ ràng bằng đường giao thông đối ngoại bao bọc; (5) Công trình công cộng như trường học, nhà trẻ cần được tập trung xung quanh một khu vực trung tâm của cộng đồng; (6) Đường giao thông nội bộ cần được thiết kế tỷ lệ thuận với lưu lượng dự đoán và không khuyến khích giao thông xuyên cắt từ bên ngoài

Đây là một trong số các mô hình thiết kế cộng đồng có ảnh hưởng nhất thế kỷ XX, đặc biệt là tại Bắc Mỹ, “đơn vị ở” được đề xuất như là một công cụ xã hội đầy tinh tế nhằm giúp cho con người xác định được bản sắc và đặc trưng cá nhân trong mối liên hệ với cộng đồng và địa danh nơi họ sinh sống.

Tuy nhiên, chính những ý tưởng xã hội của mô hình tạo ra thách thức cho bản thân nó. Các nghiên cứu cho thấy “đơn vị ở” thực tế không giúp gia tăng giao tiếp trong cộng đồng. Thêm nữa, do vị trí công trình công cộng đặt tại trung tâm và được thiết kế cho mô hình gia đình lý tưởng nên chỉ sau một thế hệ, khi mà trẻ em lớn lên thì những công trình này trở nên trống vắng và hoang phí. Nhấn mạnh vào xây dựng tính cộng đồng nội tại, tách biệt với bên ngoài để kiểm soát giao thông, tách biệt các loại hình sử dụng đất, hạ tầng xã hội được thiết kế nhằm phục vụ một quy mô dân số và hình mẫu gia đình nhất định, mô hình không thể đáp ứng những biến đổi của xã hội luôn diễn ra không ngừng nghỉ đang trở thành một thách thức lớn cho việc tái thiết các thành phố tại Bắc Mỹ[22].

Năm 1933, nhà địa lý học người Đức là Walter Christaller[23] đã đề xuất lý thuyết “vị trí trung tâm” (Central Place Theory). Để hình thành “lý thuyết vị trí trung tâm”, W. Christaller đã đi sâu vào giải thích những mối quan hệ giữa giá cả, lượng tiêu thụ hàng hóa và chi phí giao thông. Như vậy vùng thị trường ở đây là ranh giới phụ thuộc vào 2 thành tố: (1) Ranh giới xa nhất mà ở đó khách hàng chấp nhận chi phí giao thông đến trung tâm mua một loại sản phẩm; (2) Ranh giới nào mà trong khu vực đó có lượng khách hàng tiêu thụ của trung tâm, đảm bảo duy trì sự hoạt động của trung tâm. Ông đã đưa ra 2 khái niệm “ngưỡng” (threshold) và “phạm vi” (range), trong đó khái niệm “ngưỡng” chỉ mức độ tối thiểu về nhu cầu để duy trì một loại dịch vụ, “phạm vi” chỉ khoảng cách tối đa mà một người mua có thể chấp nhận trả chi phí cho các dịch vụ kể cả chi phí giao thông.

Lý thuyết “vị trí trung tâm của W. Christaller đã được nhiều quốc gia ứng dụng trong công tác quy hoạch, đặc biệt trong đó là các nước Đông Âu và Liên Xô (cũ). Ngoài ra hai khái niệm “ngưỡng” và “phạm vi” mà ông đã đề cập đối với một trung tâm mua sắm hiện nay vẫn còn nguyên giá trị, nhiều đô thị ứng dụng trong việc tổ chức trung tâm dịch vụ công cộng. Bên cạnh đó, ý tưởng đề xuất tách bạch 3 nguyên tắc quan hệ là thương mại, giao thông và hành chính của một trung tâm mua sắm cũng đã được không ít quốc gia và đô thị vận dụng.

Bản “Hiến chương Athens” ra đời vào niên đại 30 của thế kỷ XX chính là cột mốc quan trọng trong tiến trình phát triển lý luận quy hoạch đô thị của thế giới. Năm 1933, Hiệp hội kiến trúc hiện đại quốc tế đã họp và chế định đại cương về quy hoạch đô thị mang tính quốc tế[24]. Hội nghị đã tổng kết những thành quả phát triển mới về lý luận và thực tiễn công tác quy hoạch đô thị ở các nước trên thế giới, nội dung chủ yếu bao gồm: (1) Xem thành phố là tổ chức không gian thực hiện 4 công năng cơ bản là nơi cư trú (sinh sống), nơi làm việc, nơi nghỉ ngơi/giải trí và giao thông/lưu thông. Do đó, trong công tác quy hoạch cần phải đảm bảo và phát huy tối đa 4 công năng đó của đô thị; (2) khu vực nhà ở trong thành phố nên tọa lạc (quy hoạch) nơi tốt nhất và cần có một lượng tiếp xúc mặt trời tối thiểu trong tất cả các ngôi nhà; (3) những nơi có mật độ dân số cao có thể xây dựng những khu nhà chung cư cao tầng và khoảng cách giữa chúng phải tương đối xa, đồng thời cần phải có quy hoạch quỹ đất công để thiết kế các khu vui chơi giải trí hay các bãi đỗ xe; (4) các khu hạ tầng chuyên biệt như nhà ở, khu thương mại, khu vui chơi giải trí không nhất thiết phải tập trung ở khu vực trung tâm thành phố; (5) quy hoạch thành phố phải chú ý đến không gian 3 chiều là dài, rộng và cao và tránh kiểu không gian 2 chiều truyền thống là rộng và dài; (6) nhu cầu của con người chính là nền tảng, cơ sở cho các hệ giá trị và công năng của thành phố trong quá trình quy hoạch và xây dựng đô thị; (7) cần phải xem quy hoạch đô thị là luật pháp và phải dựa vào công cụ pháp luật để bảo đảm quá trình thực thi các đồ án quy hoạch.

Từ sau niên đại 30 trở đi, nhiều đô thị trên thế giới đã quy hoạch và tiến hành triển khai các phố thương mại, phố đi bộ và đã trở thành nơi thu hút nhiều khách du lịch. Ngoài ra, ý niệm về công viên cây xanh cũng đã bắt đầu trở nên “phổ cập” trong tư duy của nhà quy hoạch và quản lý đô thị. Không ít quốc gia hay thành phố, mặc dù diện tích tổng thể không lớn nhưng cũng đã thiết kế các mảng xanh, khu công viên công cộng có diện tích khá lớn. Khi giải quyết bài toán giao thông đô thị, ý tưởng xây dựng các nhà cao tầng xa trung tâm hoặc phát triển giao thông lập thể, giao thông ngầm,... cũng là một sự lựa chọn của nhà quy hoạch.

Năm 1942, trong cuốn sách của mình có tiêu đề “Thành phố: sinh trưởng, suy thoái và tương lai của nó”, kiến trúc sư Eero Saarinen[25] đã đề cập đến “lý luận về phân tán hữu cơ”. Lý luận phân tán hữu cơ khác với lý thuyết “thành phố vườn” cũng không giống với “lý thuyết phát triển trung tâm” trước đó. E. Saarinen cho rằng, đối với khu vực trung tâm thành phố quá đông đúc thì cần chiếu theo nguyên tắc “trật tự hữu cơ” để tăng sự phân tán và cách tân, cần đưa các khu công nghiệp ra vùng ven để có sự phát triển cân đối, hài hòa, hữu cơ giữa khu trung tâm với các vùng ngoại ô. Theo chủ trương của E. Saarinen, khu vực trung tâm thành phố chủ yếu dành cho các cơ quan hành chính nhà nước và các đơn vị sự nghiệp công để giải quyết các vấn đề và yêu cầu của người dân, các khu vực dân cư có thể phân tán ra bên ngoài để giảm thiểu tình trạng ùn tắc giao thông. Thành phố New York của Mỹ là một đô thị lớn trên thế giới lựa chọn lý luận này đến kiến tạo đô thị, từ mới đầu họ đã tiến hành đưa các khu dân cư và khu công nghiệp phân tán ra các vùng lân cận, từ đó chuyển đổi dần mô thức đô thị hóa kiểu đơn trung tâm, hướng phát triển đô thị theo xu thế “ngoại ô hóa”. Mô thức “ngoại ô hóa” đã được nhiều quốc gia như Mỹ, Anh, Nhật, Pháp,... lựa chọn và dần hình thành các dải đô thị lớn và các khu vực đô thị đa trung tâm. Ở nước ta, hướng phát triển của thành phố Hồ Chí Minh cũng theo hướng đa cực, đa trung tâm là mô hình phù hợp với tốc độ gia tăng dân số và đô thị hóa hiện nay[26].

2.4. Lý luận quy hoạch đô thị đương đại

Sau khi kết thúc chiến tranh thế giới lần thứ hai thì việc phục hồi, ứng dụng các kết quả của khoa học kỹ thuật vào kiến thiết và phát triển kinh tế-xã hội trên toàn thế giới có bước tiến mạnh mẽ. Nhiều quốc gia tiến hành điều chỉnh cơ cấu ngành nghề, đưa khoa học kỹ thuật vào để phát triển các ngành công nghiệp và dịch vụ. Từ giữa thế kỷ XX, chịu ảnh hưởng của lý thuyết quy hoạch đô thị theo trường phái cấu trúc-chức năng (chủ nghĩa công năng), các đô thị tiến hành quy hoạch theo kiểu phân tán để kéo dãn dân số và tránh hiện tượng tập trung dân số quá mức ở khu trung tâm. Nhiều đô thị mới ra đời cũng được quy hoạch và tiến hành kiến tạo theo học thuyết quy hoạch chủ nghĩa công năng. Nhấn mạnh đến việc kết hợp phát triển kinh tế-xã hội và giải quyết các vấn đề liên quan của đô thị; chú trọng đến cơ cấu không gian đô thị (phù hợp với cơ cấu kinh tế-xã hội đô thị); chú ý đến vấn đề vận dụng tiến bộ của khoa học kỹ thuật vào công tác quy hoạch và quản lý đô thị; công tiến trình quy hoạch, luôn chú trọng và vận dụng lý thuyết hệ thống, lý thuyết kiểm soát, lý thuyết thông tin vào các bước và suốt quá trình để hoạt động quy hoạch đảm bảo tính khoa học, tính thực tiễn, tính thao tác, tính dự báo, tính chiến lược.

Năm 1955, François Perroux[27] nhà kinh tế học người Pháp đã đưa ra Lý thuyết “Cực tăng trưởng”[28], chỉ ra vai trò to lớn của đô thị về sức mạnh kinh tế (như một cực tăng trưởng) và theo đó, vai trò của một đô thị lớn đối với các đô thị nhỏ hơn về sức ảnh hưởng và khả năng “dẫn dắt” về phát triển kinh tế-xã hội. F. Perroux cho rằng, việc quy hoạch, bố trí hệ thống các đô thị (kể cả những thị trấn/thị xã) sẽ góp phần định hướng phát triển kinh tế cho toàn khu vực và, sự phát triển kinh-xã hội của khu vực chịu tác động mạnh mẽ của đô thị lớn như một “cực tăng trưởng”. Do đó, gọi là “cực tăng trưởng” hàm chỉ sức mạnh to lớn, vai trò phát triển kinh tế của các độ thị lớn, nó có thể mở rộng bán kính giao dịch, lưu thông cũng như mật độ mạng lưới thị trường; nó có thể là thỏi nam châm thu hút nguồn lao động và nó là chất xúc tác thúc đẩy phát triển kinh tế vùng. Và đương nhiên, các đô thị lớn là nơi sáng tạo ra nhiều cái mới, tạo nên nhiều của cải cho xã hội, nâng cao mức thu nhập và cải thiện đời sống cho người dân. Chính lẽ đó, theo quan điểm của F. Perroux, các vùng còn lạc hậu nên chú ý công tác quy hoạch và đặc biệt nên hình thành và phát triển các đô thị lớn, hình thành “cực tăng trưởng” cho toàn vùng.

Đến những năm 60 của thế kỷ XX, các nhà quy hoạch và xây dựng đô thị đã nhận thức ra rằng, nếu chỉ dựa vào các công cụ, điều kiện và tiến bộ của khoa học kỹ thuật trong công tác quy hoạch, quản lý đô thị thì chưa đủ, chí ít là không thể giải quyết một cách căn cơ, triệt để các vấn đề nảy sinh trong lòng đô thị, do đó cần phải có sự kết hợp giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội, giữa quy hoạch không gian kiến trúc và không gian xã hội; giữa phát triển và bảo tồn,... mới có thể phát triển đô thị một cách hài hòa, bền vững. Ngay như việc “ngoại ô hóa” cũng mang lại nhiều hệ lụy trong phát triển đô thị như: tầng lớp giàu có di chuyển đến các khu ngoại ô và lúc đó, khu vực nội thành dần trở lên mất sức sống, hạ tầng xuống cấp, thất nghiệp gia tăng,...

Từ niên đại 60 của thế kỷ XX trở đi, quy hoạch đô thị bắt đầu đã chú ý đến việc bảo vệ, duy tu, tôn tạo các di sản văn hóa cũng như các di tích lịch sử của đô thị. Nó vừa là hiện trưng của sức sống, mạnh nguồn đô thị vừa thể hiện bản sắc, sức hấp dẫn của một đô thị; vừa là chất keo kết dính cá nhân với cộng đồng, giữa đô thị và nông thôn. Năm 1964, Hiệp hội Bảo tàng quốc tế (ICOM)[29] đã thông qua “Hiến chương Venice” về “Hiến chương quốc tế về bảo tồn và trùng tu di tích và di chỉ” đã tổng kết kinh nghiệm thực tiễn và hệ thống hóa lý luận về công tác bảo tồn, phát huy giá trị của di sản văn hóa và tự nhiên của thế giới trong hiện tại và tương lai, vật thể và phi vật thể. Hiến chương đã đưa ra một số nguyên tắc cơ bản trong công tác bảo tồn, trùng tu: (1) Mục đích của bảo tồn- trùng tu trước hết và tối cao là duy trì, đảm bảo sự tồn tại lâu dài của di tích, do đó trong trùng tu cần bảo tồn tối đa các thành phần nguyên gốc và tính chân thực của di tích; (2) Bảo tồn-trùng tu cần hạn chế càng nhiều càng tốt sự can thiệp vào di tích, mọi sự can thiệp khi cần thiết không làm giảm, thay đổi những đặc điểm cơ bản và những giá trị vốn có của di tích. Ưu tiên bảo quản, gia cố sau đó mới đến tu bổ phục hồi và tôn tạo; (3) Các thành phần thay thế, bổ sung phải được phân biệt với các thành phần nguyên gốc tránh sự nhầm lẫn của các thế hệ sau; (4) Mọi quyết định về phục hồi cần phải có những căn cứ xác thực, tuyệt đối không được thực hiện trên các giả thiết; (5) Bảo tồn-trùng tu di tích là một khoa học liên quan đến các vấn đề lịch sử, kiến trúc, nghệ thuật không tương đồng với xây dựng hoặc sửa chữa nhà cửa. Công tác trùng tu phải dựa trên những nghiên cứu, khảo sát, phân tích, đánh giá toàn diện. lập hồ sơ đầy đủ trước khi can thiệp vào di tích; (6) Bảo tồn-trùng tu ưu tiên sử dụng các vật liệu, chất liệu truyền thống, các quy trình kỹ thuật thi công truyền thống. Việc sử dụng các vật liệu, kỹ thuật mới khi cần thiết phải có các giải pháp không làm ảnh hưởng đến các đặc điểm, giá trị vốn có của di tích[30].

Năm 1978, Hiệp hội kiến trúc hiện đại quốc tế tổ chức đại hội tại thủ đô Peru là Lima đã tiến hành thông qua một văn bản có tên “Hiến chương Machu Picchu”[31]. Thông qua việc đánh giá một cách khách quan “Hiến chương Athens” để trả lời và tìm lời giải cho các vấn đề mới mà các đô thị trên thế giới đối diện, bản Hiến chương Machu Picchu đã khuyến nghị: (1) Các phân khu chức năng đô thị là tương đối, vấn đề là cần phát huy tối đa các phân khu chức năng này và đảm bảo mối liên hệ chặt chẽ giữa chúng, cần chú trọng đến tính chỉnh thể của đô thị; (2) Mỗi một công trình kiến trúc của thành phố cần phải “đối thoại” với các công trình kiến trúc khác, từ đó hoàn thiện hình ảnh tự thân nó; (3) Trong quy hoạch giao thông đô thị và các chính sách tương ứng cần phải đảm bảo nguyên tắc phương tiện giao thông cá nhân “phục tùng” giao thông công cộng; (4) Trong quá trình phát triển đô thị cần xử lý tốt mối quan hệ giữa xây dựng hạ tầng, môi trường tự nhiên và môi trường nhân văn; bảo vệ, bảo tồn các di sản văn hóa, di tích lịch sử; bảo vệ các giá trị nhân văn và cảnh quan môi trường.

Năm 1981, tại Warsaw - thủ đô Ba Lan, Đại hội lần thứ 14 của Hiệp hội kiến trúc hiện đại quốc tế đã tiến hành thảo luận chủ đề “Đô thị và môi trường của nhân loại” và tiến hành thông qua “Tuyên ngôn Warsaw”. Tuyên ngôn Warsaw đã nhấn mạnh lại các quan điểm chủ yếu của “Hiến chương Machu Picchu” đồng thời đưa ra lời cảnh báo về vấn đề môi trường. Tuyên ngôn chỉ rõ, dân số ngày càng gia tăng, nhu cầu về khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên càng lớn và mâu thuẫn, xung đột ngày càng rõ nét; các nguồn năng lượng, lương thực, hệ thống sinh thái của đô thị ngày càng mất cân bằng và có khả năng phát sinh khủng hoảng; ô nhiễm môi trường đã trở thành vấn nạn. Do đó, công tác quy hoạch đô thị cần hết sức chú trọng đến luận đề môi trường; cần đưa vấn đề bảo vệ và cải thiện môi trường thành nhiệm vụ và mục tiêu chủ yếu trong thiết kế, quy hoạch, quản lý đô thị.

3. Nội dung về quy hoạch đô thị

3.1. Nhiệm vụ cơ bản trong quy hoạch đô thị

Quy hoạch đô thị là một chuỗi liên hoàn các hoạt động và nhiệm vụ tương ứng gắn với từng giai đoạn và do các chủ thể khác nhau đảm nhiệm. Trong đó, gồm một số nhiệm vụ chủ yếu: nghiên cứu tổng hợp để xác định tính chất đô thị, quy mô và không gian phát triển của đô thị; định hướng, sắp xếp, quy hoạch đất đai cho các hạng mục và phân khu chức năng; phân bố hợp lý hệ thống cơ sở hạ tầng đô thị, xử lý tốt mối quan hệ giữa nhiệm vụ trước mắt và lâu dài, giữa ngắn hạn và dài hạn; chỉ đạo để đô thị phát triển hợp lý, hài hòa, bền vững.

Thời hạn quy hoạch tổng thể của một đô thị thông thường là 20 năm, đồng thời cần phải có tầm nhìn quy hoạch dài hạn hơn, xa hơn. Cần phải lưu ý rằng, các quy hoạch chi tiết phải là bộ phận tổ thành của quy hoạch tổng thể; xây dựng ngắn hạn (tầm 5 năm) phải là mắc xích của chiến lược đô thị, tránh tình trạng “cái bộ phận” lại không nằm trong “cái tổng thể”, xây dựng ngắn hạn không “ăn khớp” với tư duy chiến lược; thậm chí vì “cái tiểu tiết” mà phải sửa “cái chỉnh thể”, vì “cái trước mắt” và “quên” đi “cái lâu dài”, vì mục tiêu kinh tế mà “bỏ qua” mục tiêu môi trường, yếu tố xã hội,... Thông thường, quy hoạch tổng thể đô thị bao hàm một số nội dung chủ yếu sau:

- Phân tích các điều kiện phát triển cũng như các nhân tố chế ước để đề xuất chiến lược phát triển của đô thị. Xác định các nguồn (tài nguyên) cần khai thác (bao gồm đất, nước,...), các ngành nghề cần thúc đẩy phát triển, môi trường cần được bảo vệ, các di sản văn hóa và lịch sử cần tôn tạo, phục dựng. Dự  báo trình độ phát triển để điều chỉnh kết cấu và quy mô của đô thị; phân bố các phân khu chức năng và bố cục không gian tương ứng; xác định trọng điểm, mũi nhọn đột phá; bố cục và cơ cấu mạng lưới giao thông, thông tin, năng lượng, cấp nước, thoát nước,...; đưa ra các giải pháp thực hiện và các công cụ thực hiện các nhiệm vụ liên quan;

- Xác định phương hướng, tính chất, quy mô phát triển của đô thị, hoạch định, khoanh vùng phạm vi quy hoạch;

- Đề xuất quy mô phát triển quỹ đất và nhân khẩu thành phố tương ứng, xác định bố cục không gian, các phân khu chức năng; vị trí trung tâm và khả năng lan tỏa của thành phố trong tương lai;

- Xác định quy mô về hạ tầng giao thông chủ yếu gồm sân bay, cảng (biển, sông), đường sắt, đường bộ và các trạm, bến xe tương ứng; theo đó cần định vị các trục đường chính của thành phố, các nút giao cắt lớn; hệ thống hạ tầng phục vụ giao thông tĩnh,…

- Bố trí tổng thể và xác định mục tiêu phát triển về hạ tầng phục vụ đời sống thị dân như cấp nước, thoát nước, phòng chống lũ lụt; cấp điện, thông tin, khí đốt, cấp nhiệt (về mùa đông đối với các đô thị vùng lạnh); xử lý rác thải và vệ sinh môi trường,…;

- Xác định và bố trí hệ thống hồ, sông để vừa tạo cảnh quan, vừa góp phần điều hòa lượng nước trong tình huống cụ thể;

- Xác định mục tiêu phát triển và kiến tạo hệ thống công viên cây xanh;

- Xác lập mục tiêu bảo vệ môi trường, đề xuất các giải pháp xử lý ô nhiễm;

- Xác định các rủi ro đô thị có thể xảy ra để xác định nguồn nhân lực, vật lực, trí lực ứng phó;

- Xác định kế hoạch tiến hành bảo vệ, tôn tạo các danh thắng lịch sử, văn hóa, các di sản, các con đường/ngõ hẻm có giá trị về lịch sử;

- Xác định các biện pháp, nguyên tắc tiến hành bảo vệ, cải tạo các khu đô thị cũ;

- Đảm bảo hài hòa giữa khu vực thành phố và khu vực nông thôn lân cận; giữa nội thị và ngoại thị; giữa công nghiệp, dịch vụ với sản xuất nông nghiệp; xác lập các “vùng đệm” cần thiết cho đô thị, vừa tạo kết nối, hài hòa vừa đảm bảo điều hòa chất lượng không khí đô thị;

3.2. Nội dung chủ yếu về quy hoạch đô thị

Giai đoạn quy hoạch tổng thể đã xác định cụ thể các nhiệm vụ quy hoạch về giao thông, cấp thoát nước, điện/năng lượng, thông tin/truyền thông, cung nhiệt/khí, các khu công viên cây xanh, các danh thắng, các di tích, kế hoạch bảo vệ môi trường, hệ thống phòng chống và giảm nhẹ thiên tai, không gian ngầm,… Ngoài ra, cần chú ý đến các vấn đề rủi ro khác như động đất, sóng thần (đô thị biển) và một số vấn đề khác có thể nảy sinh.

Thứ nhất, quy hoạch đường sá. Trước tiên là hệ thống giao thông kết nối như đường sắt, các bến cảng; hệ thống kết nối giao thông đô thị với đường cao tốc,… Kế đến, cần chú trọng đến vấn đề vận chuyển hàng hóa và các kho chứa tương ứng. Xác định (và phân định rõ) giao thông công cộng với giao thông vận tải khác, phân bố các trạm giao thông công cộng; nghiên cứu sắp xếp một cách khoa học các tuyến đường sắt đô thị, xe đạp đô thị để giải quyết vấn đề kẹt xe. Cuối cùng chú ý mạng lưới đường sá, cầu cống; giao thông tập thể, nơi đậu đỗ xe và thường xuyên thống kê, đánh giá mức độ gia tăng các phương tiện giao thông để có biện pháp xử lý và điều chỉnh quy hoạch đường sá cho phù hợp.

Thứ hai, quy hoạch các công trình cấp nước. Cần phải định lượng được nhu cầu sử dụng nước để tính toán tổng lượng nước cung cấp; phân tích sự cân bằng giữa nhu cầu và khả năng nguồn nước tự nhiên để lựa chọn nguồn nước, năng lực cung cấp, phương thức lấy nước và năng lực cung ứng; bố trí hệ thống ống dẫn nước, xác định số lượng và vị trí đặt trạm tăng áp để nước cung cấp đến hộ dân không quá yếu; điều quan trọng nữa là cần phải có kế hoạch, biện pháp bảo vệ nguồn nước cung cấp cho đô thị (về số lượng, chất lượng và các khả năng phát sinh ngoài ý muốn của chính quyền đô thị). Nếu không có quy hoạch tốt, sẽ dẫn đến mất an ninh nguồn nước, đời sống sinh hoạt của thị dân bị xáo trộn, thậm chí nảy sinh các xung đột[32].

Thứ ba, quy hoạch công trình thoát nước. Thông qua việc tính toán một cách khoa học tổng lượng nước thải (nước thải sinh hoạt và nước mưa) để chế định tiêu chuẩn hệ thống hạ tầng thoát nước. Bố trí mạng lưới hạ tầng thoát nước, các trạm chứa để xử lý; tính toán áp dụng hệ thống máy móc có thể vận hành xử lý và khả năng tái sử dụng nguồn nước thải đã qua xử lý.

Thứ tư, quy hoạch công trình cấp điện. Từ số liệu thực tế về dân cư và nhu cầu dùng điện của thành phố, tính toán tổng lượng điện sử dụng để quy hoạch, bố trí các trạm biến áp và lượng điện tương ứng. Cũng cần tính toán đến đa dạng hóa nguồn cung điện, loại điện (thủy điện, phong điện, nhiệt điện,…) và đa dạng hóa chủ thể cung cấp để có sức cạnh tranh. Có kế hoạch bảo vệ hành lang lưới điện và các trạm biến áp để đảm bảo an ninh nguồn điện đô thị.

Thứ năm, quy hoạch công trình thông tin-truyền thông. Xác định quy mô phát triển và tiêu chuẩn các thiết bị truyền thông, các nhà cung cấp hạ tầng thông tin, đảm bảo thông suốt và tính hiện đại; quy hoạch bố cục và cơ cấu hạ tầng truyền thông, phục vụ nhu cầu ngày càng gia tăng của đô thị, nhất là tiến hành xây dựng hạ tầng công nghệ thông tin để xây dựng đô thị thông minh, đô thị số.

Thứ sáu, quy hoạch hệ thống cung cấp khí đốt, nhiệt. Đối với các đô thị tọa lạc ở vùng lạnh và cũng để đảm bảo tính hệ thống, an ninh cũng như tính thẩm mỹ, nhiều đô thị quy hoạch hệ thống cung cấp khí đốt, cung cấp nhiệt (để sưởi ấm và phục vụ nhu cầu hằng ngày của thị dân) trên phạm vi toàn thành phố. Đây là hệ thống khá phức tạp và cần phải có tầm nhìn trong quy hoạch, đặc biệt là tránh xung đột với hệ thống khác của đô thị.

Thứ bảy, quy hoạch chiến lược môi trường. Chế định hệ thống chất lượng môi trường, xác định tiêu chuẩn về khí thải, chất thải của các chủ thể/vật thể có thể gây ô nhiễm; từ đó đưa ra hệ thống chế tài, biện pháp xử lý các chủ thể gây ô nhiễm và chiến lược bảo vệ môi trường đô thị. Trong đó, cần quy định tiêu chuẩn cụ thể cho âm thanh, ánh sáng, nhiệt lượng; nguồn nước thải, rác thải, khí thải; môi trường tự nhiên và môi trường nhân văn đô thị.

Thứ tám, quy hoạch công trình phòng chống và giảm nhẹ thiên tai đô thị. Công trình phòng chống và giảm nhẹ thiên tai gồm phòng cháy chữa cháy, dự báo động đất, phòng chống bão lụt,… Căn cứ vào tính chất, quy mô, tần số phát sinh hiện tượng thiên tai để có kế hoạch, chiến lược phòng chống và giảm nhẹ tác động của các hiện tượng thiên nhiên.

Thứ chín, quy hoạch hệ thống công viên cây xanh. Hệ thống công viên cây xanh là lá phổi của đô thị, vừa có chức năng điều hòa không khí, vừa tạo cảnh quan đô thị nhưng đặc biệt hơn, tạo nên tính nhân văn của một thành phố; là nơi để thị dân và du khách thư giãn, giải trí và tổ chức các hoạt động dã ngoại, gắn kết cộng đồng và hình thành ý thức yêu thiên nhiên. Hiện tại, không ít đô thị của Việt Nam (kể cả đô thị miền núi) thiếu những công viên, mảng xanh công cộng khiến cho đô thị trở thành một “khối bê tông khổng lồ” thiếu tính nhân văn[33].

Thứ mười, quy hoạch không gian ngầm và khai thác không gian ngầm. Từ quy hoạch tổng thể đô thị cần xác định vị trí chiến lược và vai trò của không gian ngầm đô thị, chế định chính sách khai thác, quy hoạch, sử dụng, bố trí, xây dựng không gian ngầm phục vụ cho yêu cầu phát triển đô thị, nhất là an ninh, giao thông. Cần phải có quy hoạch không gian ngầm tổng thể và các phân khu chức năng không gian ngầm, nhất là mục đích giao thông công cộng (giao thông động và giao thông tĩnh). Nhiều đô thị trong một thời gian dài không có quy hoạch không gian ngầm, cho nên, khi cần sử dụng không gian ngầm thì vướng rất nhiều vấn đề như: tính pháp lý, không gian ngầm bị “xâm lấn” bằng cọc nhồi bê tông của các công trình lớn. Lúc đó muốn xây dựng hạ tầng ngầm không chỉ vướng về pháp lý còn phải tiến hành “xử lý” những hệ lụy mà trước đó không lường trước được. Chẳng hạn, muốn xây dựng tàu điện ngầm (Metro) thì không thể không sử dụng không gian ngầm, thế nhưng đến khi có nhu cầu kiến tạo hệ thống Metro thì vấn đề mới lại nảy sinh: chưa có quy hoạch không gian ngầm.

Thứ mười một, quy hoạch chiến lược bảo vệ các danh thắng, các di tích lịch sử. Từ dòng chảy lịch sử và các lớp trầm tích văn hóa của đô thị cần xác định chiến lược bảo vệ, khai thác các danh thắng, di tích lịch sử một cách khoa học. Quy hoạch chiến lược bảo vệ danh thắng, di tích lịch sử đô thị liên quan đến nhiều yếu tố như dân cư, văn hóa lối sống, di tu bảo dưỡng, hình thái không gian và các biện pháp cụ thể gắn với các chủ thể. Xác định các hạng mục công trình các danh thắng cần được bảo vệ; có kế hoạch trùng tu các di sản văn hóa đô thị; đưa ra các chính sách quản lý và xử lý các hành vi vi phạm.

4. Thực hiện quy hoạch và quản lý quy hoạch đô thị

4.1. Nguyên tắc trong quy hoạch đô thị

Con người là động lực cũng là mục tiêu của quá trình phát triển. Đối với một thành phố mà nói, con người là “hồn cốt” và tạo nên “cái thiêng” cho đô thị. Nói cách khác, quy hoạch phát triển đô thị phải lấy con người làm trung tâm, dĩ nhân vi bản. Bất luận là quy hoạch tổng thể hay quy hoạch chi tiết thì đều tạo điều kiện thuận lợi nhất cho thị dân, đảm bảo nguyên tắc căn bản là “phục vụ người dân”. Cụ thể, trong tiến trình quy hoạch đô thị cần phải tuân thủ các nguyên tắc sau:

Thứ nhất, nguyên tắc hài hòa, hệ thống. Quy hoạch đô thị lấy sự hài hòa, bền vững, thống nhất, phối hợp giữa các bộ phận tổ thành, các tiểu hệ thống trong hệ thống lớn để bố cục không gian, cải thiện môi trường sống, thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội, đảm bảo an sinh xã hội, an ninh con người làm sứ mệnh và mục tiêu. Khi chế định các chính sách và các đồ án quy hoạch đô thị cần đảm bảo tính liên hệ, tính thống nhất và hài hòa giữa môi trường tự nhiên, điều kiện nguồn lực, địa lý nhân văn, trình độ sản xuất, văn hóa xã hội,… Trong quy hoạch tổng thể, cần phải căn cứ vào tình hình thực tiễn về điều kiện hiện hữu của đô thị thông qua các số liệu thực chứng mới có thể xác định được quy mô phát triển của đô thị một cách phù hợp, hình thành các tiêu chuẩn, tiêu chí đánh giá cụ thể cho từng lĩnh vực, từng giai đoạn và tổng thể.

Thứ hai, nguyên tắc hiệu quả. Nguyên tắc hiệu quả hàm chỉ hiệu quả tổng hợp của toàn hệ thống đô thị. Muốn vậy cần phải đảm bảo nguyên tắc khoa học và lấy sự hài lòng của nhân dân làm thước đo căn bản. Đương nhiên, quy hoạch không chỉ đảm bảo về tính thẩm mỹ mà còn phải tính đến hiệu quả kinh tế-xã hội. Trong quy hoạch, cần phải tính toán hợp lý giữa không gian sinh tồn và không gian phát triển để vừa thỏa mãn hiệu quả kinh tế, vừa đảm bảo “dĩ nhân vi bản”. Nói đến hiệu quả điều tất yếu phải tính đến quan hệ tỷ lệ giữa đầu tư và sản xuất, lợi ích. Nói cách khác, đảm bảo nguyên tắc hiệu quả trong quy hoạch đô thị là phải đạt được lợi ích cao nhất có thể theo mong đợi. Tránh trường hợp tiêu tốn quá nhiều nguồn lực (nhân lực, tài lực) cho quy hoạch nhưng những gì mà đồ án quy hoạch mang lại không lớn, thậm chí không có giá trị.

Thứ ba, nguyên tắc tiết kiệm. Các nguồn lực và tài nguyên của đô thị, trong đó có tài nguyên đất, là vô cùng quan trọng và hữu hạn. Do đó, quy hoạch đô thị phải đảm bảo nguyên tắc tiết kiệm, nhất là tiết kiệm quỹ đất. Có thể nói, tiết kiệm tài nguyên đất là nhân tố quan trọng của phát triển đô thị bền vững. Quy hoạch đô thị luôn quán triệt tinh thần tiết kiệm tài nguyên đất bằng cách bố trí, bố cục hợp lý các phân khu chức năng; đảm bảo nguyên tắc xây dựng phải theo quy hoạch, tránh tình trạng lấn chiếm, chiếm dụng, xây dựng sai mục đích. Một mét vuông đất đô thị nếu quy hoạch và sử dụng đúng cách, đúng mục tiêu, khoa học có khi tạo ra giá trị còn hơn cả trăm, cả ngàn mét vuông, đó có lẽ là phương châm và nguyên tắc tiết kiệm trong công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch đô thị.

Thứ tư, nguyên tắc nhân văn. Đô thị là sản phẩm độc đáo do nhân loại tạo lập, vừa là môi trường sống (hoạt động sống, phương thức sống) vừa là môi trường sáng tạo (khoa học, kỹ thuật), vừa là môi trường nhân văn (lịch sử, văn hóa, giá trị,…). Chính lẽ đó, quy hoạch đô thị cần phải đảm bảo nguyên tắc nhân văn, tức là phải có kế hoạch bảo vệ các di sản văn hóa, văn vật; bảo tồn và phát huy các giá trị bản địa, phong tục tập quá cũng như bản sắc dân tộc. Nguyên tắc nhân văn có vị trí, vai trò rất lớn không chỉ đối với hình ảnh và sức hấp dẫn của đô thị mà còn thúc đẩy phát triển các ngành nghề (như du lịch, dịch vụ), các nhà đầu tư và cuối cùng là động lực phát triển kinh tế-xã hội của chính đô thị. Điều lưu ý đối với các nhà quy hoạch và chính quyền đô thị là, khi tiến hành cải tạo các khu đô thị cũ và phát triển khu đô thị mới, cần phải có tư duy và tầm nhìn xa hơn về bảo tồn các giá trị, bản sắc địa phương; gìn giữ các giá trị văn hóa, lịch sử; tôn tạo các danh thắng và bảo lưu các công trình kiến trúc (thậm chí như nhà ở) có tính chất lịch sử, mang giá trị truyền thống, tránh “san bằng” các giá trị văn hóa, lịch sử khiến đô thị sẽ mất đi “cái linh thiêng”, “hồn cốt” vốn có.

Thứ năm, nguyên tắc sinh thái. Các đô thị hiện đại thông thường có mật độ xây dựng lớn, dân số đông và tất yếu sẽ phát sinh không ít các vấn đề xã hội như ùn tắc giao thông, ô nhiễm môi trường, thiếu hụt nguồn cung năng lượng,… Do đó, công tác quy hoạch cần chú ý đến môi trường sinh thái, giảm thiểu vấn nạn ô nhiễm môi trường. Môi trường bị ô nhiễm không chỉ thiệt hại về mặt kinh tế, tổn hại về hình tượng đô thị mà còn tác động trực tiếp đến sức khỏe con người. Nhiệm vụ trước mắt và lâu dài mà người làm công tác quy hoạch đô thị cần thực hiện là xử lý ô nhiễm, ngăn ngừa các nguồn gây ô nhiễm, bảo vệ môi trường sinh thái, hướng đến mục tiêu phát triển đô thị bền vững.

4.2. Định hướng chiến lược trong quy hoạch và quản lý quy hoạch đô thị

Toàn cầu hóa kinh tế là động lực, cơ hội cho các quốc gia, đô thị phát triển nhưng đó cũng là thách thức không nhỏ đối với các quốc gia đang phát triển và các đô thị vừa và nhỏ, nhất là trong định hướng chiến lược phát triển.

Tùy theo cách tiếp cận khác nhau mà định hướng chiến lược trong phát triển đô thị nói chung, trong quy hoạch đô thị nói riêng, có những khác biệt nhất định. Có chiến lược phát triển đô thị cấp quốc gia (đô thị trực thuộc trung ương), đô thị cấp vùng hay đô thị trực thuộc tỉnh; chiến lược phát triển đô thị lớn, đô thị vừa và đô thị nhỏ; chiến lược phát triển đô thị theo các cấp độ đã được quy định (ở Việt Nam có 6 loại đô thị: đặc biệt, loại 1, loại 2, loại 3, loại 4 và loại 5)[34]; chiến lược phát triển đô thị vĩ mô, trung mô hay vi mô; chiến lược phát triển đô thị về kinh tế, văn hóa, xã hội,… Ở đây, chúng tôi xin giới thiệu chiến lược phát triển đô thị theo lát cắt lĩnh vực, cụ thể là:

Chiến lược phát triển kinh tế đô thị. Phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm của một quốc gia, dân tộc, đô thị không là ngoại lệ. Không thể có một thành phố “có sức sống” mà nền tảng kinh tế kiệt quệ, đình trệ, thiếu bền vững. Điều đó cho thấy, trong quy hoạch đô thị thì định hướng chiến lược kinh tế là cực kỳ quan trọng. Đương nhiên, nội dung quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế đô thị là chiến lược phát triển các ngành nghề. Trong đó tổ chức các hoạt động sản xuất, thu hút đầu tư, cơ cấu ngành nghề, quỹ đất cần quy hoạch tương ứng,… là các nhiệm vụ cần được xác định và đưa vào quy hoạch.

Chiến lược phát triển hạ tầng đô thị. Toàn bộ hệ thống hạ tầng làm nên “phần cứng” của một thành phố. Trong đó cơ sở hạ tầng đô thị đóng vai trò là “vật chuyên chở” toàn bộ hoạt động của hệ thống đô thị. Một đô thị sẽ “tê liệt” hay “chết máy” khi “sức chịu tải” của nó không “gánh” nỗi trọng lượng khổng lồ từ các hoạt động của toàn đô thị. Đo đó, phát triển hạ tầng đô thị (hạ tầng giao thông, hạ tầng điện, hạ tầng cấp nước, hạ tầng viễn thông,...) cần phải được định hướng và có tầm nhìn chiến lược. Nếu công tác quy hoạch hạ tầng “đi sau” tốc độ phát triển của đô thị sẽ kéo theo nhiều hệ lụy về kinh tế, xã hội, môi trường cũng như hình ảnh, sức cạnh tranh đô thị.

Chiến lược phát triển văn hóa - xã hội đô thị. Có thể khẳng định, văn hóa-xã hội và kinh tế-xã hội là hai “trụ cột” của “mái nhà đô thị”. Thế nhưng, thực tế cho thấy, không ít các nhà quản lý và quy hoạch đô thị chỉ chú trọng đến chiến lược phát triển kinh tế mà, trên một bình diện nào đó, chưa chú ý đúng mức đến chiến lược phát triển văn hóa-xã hội đô thị. Như đã đề cập ở trên, con người mới thực sự là mục tiêu, động lực cho sự phát triển. Từ ý nghĩa đó mà nói, sau khi chế định chiến lược phát triển kinh tế đô thị thì cần phải hình thành chiến lược phát triển văn hóa-xã hội đô thị tương ứng, hướng đến sự hài lòng của người dân và khía cạnh đời sống tinh thần của thị dân. Để thực hiện mục tiêu chiến lược văn hóa-xã hội đô thị cần phải lồng ghép vào các chính sách khác nhau như giáo dục, y tế, thể thao, nghệ thuật; khoa học-kỹ thuật; hoạt động bảo tồn các di sản đô thị,...

Nói chung, để định hướng chiến lược phát triển đô thị cần phải đảm bảo tư duy khoa học, có căn cứ thực chứng, có tư duy tầm nhìn, có trọng tâm trọng điểm, có phân tích đánh giá và phải hình thành tiêu chí định lượng cho từng lĩnh vực, từng giai đoạn để có cơ sở lượng giá. Nếu không, kế hoạch, chiến lược, đồ án chỉ là các “vật phẩm” trên giấy.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.     Phạm Ngọc Côn, Kinh tế học đô thị, Nxb. Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội,1999.

2.     Võ Kim Cương, Quản lý đô thị - Thời kỳ chuyển đổi, Nxb. Xây dựng. Hà nội, 2004.

3.     Đảng Cộng sản Việt Nam, Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng, Văn phòng Trung ương Đảng xuất bản, Hà Nội, 2020.

4.     Phạm Đi, Biến đổi trong đời sống xã hội Trung Quốc (sách dịch), Nxb. Lý luận chính trị, Hà Nội, 2019

5.     Phạm Đi, Quản lý đô thị - một góc nhìn, Nxb. Đại học quốc gia TP.HCM, 2016.

6.     Phạm Đi, Vấn đề xã hội – lý thuyết và vận dụng, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2018.

7.     Phạm Đi, Xã hội học với lãnh đạo, quản lý, Nxb. Thông tin truyền thông, Hà Nội, 2020.

8.     Phạm Kim Giao, Quy hoạch vùng, Nxb. Xây dựng. Hà Nội 2000.

9.     Đỗ Hậu, Xã hội học đô thị, Nxb. Xây dựng. Hà Nội, 2001.

10.            Vũ Văn Hiển, Một số luận cứ phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, chống phá Đại hội XIII của Đảng, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật. Hà Nội, 2020.

11.            Lê Như Hoa, Quản lý văn hóa đô thị trong điều kiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nxb. Văn hóa-Thông tin. Hà Nội, 2000.

12.            Nguyễn Minh Hòa, Đô thị học – Những vấn đề lý thuyết và thực tiễn, Nxb. Đại học quốc gia TP.HCM, 2012.

13.            Nguyễn Minh Hòa, Đô thị học – những vấn đề lý thuyết và thực tiễn. Nxb. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, 2012.

14.            Nguyễn Minh Hòa, Tiềm năng cho kỳ tích sông Sài Gòn. Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2008.

15.            Nguyễn Minh Hòa, Vùng đô thị châu Á và thành phố Hồ Chí Minh, Nxb. Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2005.

16.            Trần Hùng, Dân số học đô thị, Nxb. Xây dựng. Hà Nội 2001.

17.            Nguyễn Đình Hương, Đô thị hóa và quản lý kinh tế đô thị ở Hà Nội. Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000.

18.            Jane Jacobs, The Death and Life of Great American Cities (bản dịch tiếng Trung của dịch giả Kim Giới Sơn, Nxb. Phượng Hoàng, Trung Quốc)

19.            Nguyễn Tố  Lăng, Quản lý đô thị ở các nước phát triển. Nxb. Xây dựng, Hà Nội, 2017.

20.            Trịnh Duy Luân, Giáo trình xã hội học đô thị, Nxb, Đại học quốc gia Hà Nội, 2009

21.            Trịnh Duy Luân, Tác động kinh tế-xã hội của đổi mới trong lĩnh vực nhà ở đô thị. Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội,1998.

22.            Vũ Hào Quang, Xã hội học quản lý, Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội, 2001.

23.            Nguyễn Văn Thành, Xây dựng và quản trị thành phố thông minh, bảo đảm các chỉ số an ninh, an sinh, an toàn trong cách mạng công nghiệp 4.0. Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2020

24.            Quỳnh Trân, Phát triển đô thị bền vững. Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2002.

 

 

 

 



[1] Quốc Hội Khóa XII, Kỳ họp thứ 5, Số 30/2009/QH12,  Luật Quy hoạch đô thị, ban hành ngày 17 tháng 6 năm 2009.

[2] Tuy nhiên, không ít đô thị ở nước ta do công tác quy hoạch thiếu tính  khoa học, thiếu đồng bộ, thiếu tầm nhìn nên còn mang tính chắp vá, thậm chí còn xung đột giữa các đồ án quy hoạch các phân khu chức năng. Ngay như vấn đề quy hoạch không gian ngầm để phục vụ cho các mục đích công như các bãi đỗ xe, các công trình ngầm nhưng hiện nay tại một số đô thị lớn như thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội vẫn còn loay hoay: “Một số hạn chế trong việc thực thi quy định về quản lý không gian ngầm đô thị có thể kể đến: Việc xây dựng cơ sở dữ liệu về không gian xây dựng ngầm đô thị chưa được quan tâm; hiện tại chỉ có 18 tỉnh, thành phố trên cả nước ban hành quyết định về quản lý, phân cấp quản lý cơ sở dữ liệu và cung cấp dữ liệu về không gian xây dựng công trình ngầm đô thị. Hệ thống cơ sở dữ liệu về công trình ngầm không đầy đủ, chưa thể hiện được tính kết nối, mối quan hệ giữa các công trình ngầm với nhau và giữa công trình ngầm với công trình trên mặt đất, dẫn đến khó khăn cho công tác lập quy hoạch”. Tham kiến: https://nhandan.com.vn/doi-song-xa-hoi/thieu-tam-nhin-dai-han-377731/

[3] Tham kiến: Quy hoạch một đằng, làm một nẻo (Báo Quân đội Nhân dân: https://www.qdnd.vn/ban-doc/thu-ban-doc/quy-hoach-mot-dang-lam-mot-neo-548395 )

[4] Tham kiến: Bất cập trong quy hoạch đô thị (Báo Nhân dân: https://nhandan.com.vn/baothoinay-dothi/bat-cap-trong-quy-hoach-do-thi-617549/ )

[5] Xem: Những ai băm nát quy hoạch Thủ đô? Tham kiến: https://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/nhung-ai-bam-nat-quy-hoach-thu-do-540812.html ; Bị băm nát, Hà Nội và TP.HCM đang trả giá rất đắt. Tham kiến: https://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/bi-bam-nat-ha-noi-va-tp-hcm-dang-tra-gia-rat-dat-541167.html

[6] Phạm Ngọc Côn, Kinh tế học đô thị, Nxb. Khoa học và kỹ thuật, H.1999, tr.16-17.

[7] Tên thật là Antonio di Pietro Aver (u) lino (1400-1469)

[8] Frederick Law Olmsted (1822-1903), là một trong những người đầu tiên đề xuất quy hoạch đô thị chính là quy hoạch cảnh quan và thiết kế công viên. Olmsted cho rằng, sự phát triển của thành phố là điều tất yếu và mang lại lợi ích cho xã hội, và việc kết hợp công viên, cảnh quan thiên nhiên vào cấu trúc đô thị có thể giúp giảm nhiều ảnh hưởng tiêu cực mà sự phát triển của đô thị gây ra. Giống như nhiều trí thức Mỹ vào thời điểm đó như Ralph Waldo Emerson và Henry Đavi Thoreau, Olmsted đánh giá cao vai trò của thiên nhiên. Ông hy vọng, việc ứng dụng mang tính sáng tạo trong thực hành kiến trúc phong cảnh có thể giảm bớt áp lực ở các thành phố đông dân và thúc đẩy tính thân thiện, trong sáng trong các mối quan hệ xã hội. Xem: Cranz, Galen. 1982, The Politics of Park Design: A History of Urban Parks in America. Cambridge, MA: MIT Press.

[9] Arturo Soria y Mata (1844-1920), người được biết đến nhiều nhất với khái niệm về “thành phố tuyến tính”. Ý niệm này đã thay thế ý tưởng truyền thống về thành phố là trung tâm và ngoại vi bằng ý tưởng xây dựng các đoạn tuyến tính của cơ sở hạ tầng - đường bộ, đường sắt, khí đốt, nước,...dọc theo một đường tối ưu và sau đó gắn các thành phần khác của thành phố dọc theo chiều dài của đường này. Thành phố tuyến tính có nghĩa là “nông thôn hóa thành phố và đô thị hóa vùng nông thôn” và được áp dụng rộng rãi như một vòng quanh các thành phố hiện có, như một dải nối hai thành phố hoặc như một thị trấn tuyến tính hoàn toàn mới trên một khu vực chưa có dân cư.

[10] Ebenezer Howard (1850-1928), kiến trúc sư người Anh, là người ảnh hưởng mạnh mẽ đến các ý tưởng và lý thuyết quy hoạch đô thị của thế kỷ XX. Đã có nhiều “thành phố vườn” được xây dựng theo mô hình của ông trên thế giới.

[11] Đoàn Ngọc Hiệp, Từ lý luận thành phố vườn của Ebenezer Howard đến lý luận thành phố vệ tinh của Raymond Unwinn, Tạp chí Quy hoạch Xây dựng, số 7/2005. Tham kiến: https://moc.gov.vn/vn/tin-tuc/1145/51151/tu-ly-luan-thanh-pho-vuon-cua-ebenezer-howard-den-ly-luan-thanh-pho-ve-tinh-cua-raymond-unwinn.aspx

[12] Phạm Đi, Xã hội học với lãnh đạo, quản lý. Nxb Thông tin và truyền thông, H.2020, tr.57-60.

[13] Còn dịch là “Đô thị trong quá trình tiến hóa” (Cities in Evolution). Những phản tư chung quanh khái niệm quy hoạch. Tham kiến: https://dothivietnam.org/2011/05/18/phantuveqh/

[14] Patrick Geddes (1854-1932), nhà sinh vật học, kiến trúc người Scotland, được cho là ông tổ của các lý luận xã hội tạo nên cơ sở cho khoa quy hoạch đô thi và nông thôn.

[15] Le Corbusier (1887-1965), là một kiến trúc sư, nhà quy hoạch, nhà văn, nhà thiết kế nội thất nổi tiếng người Pháp gốc Thụy Sĩ, là một trong những nhân vật có ảnh hưởng đến trào lưu kiến trúc hiện đại của thế kỷ XX. Chân dung của ông hiện được in trên tờ 10 franc của Thụy Sĩ và tên ông được đặt tên đường ở nhiều quốc gia.

[16] “The City of Tommorrow” và sau này là cuốn “La Ville radieuse” (Thành phố tươi sáng, 1933).

[17] Nguyễn Đỗ Dũng, Các mô hình quy hoạch: thành phố tươi sáng, Tạp chí Xây dựng, số 04/2010.

[18] Raymond Unwin (1863-1940)

[19] Đoàn Ngọc Hiệp, Từ lý luận thành phố vườn của Ebenezer Howard đến lý luận thành phố vệ tinh của Raymond Unwinn, Quy hoạch Xây dựng, số 7/2005

[20] Clarence Perry (1872-1944), cha đẻ của lý thuyết đô thị “đơn vị ở”.

[21] Còn gọi là “Đơn vị ở láng giềng (Neighbourhood Unit)

[22] Nguyễn Đỗ Dũng, Các mô hình quy hoạch đô thị: “đơn vị ở”, Tạp chí Xây dựng, số 01/2010

[23] Walter Christaller (1893-1969), sau khi tiến hành các thí nghiệm thực chứng của mình (ông chủ yếu thử nghiệm lý thuyết ở miền nam nước Đức), W. Christaller đã nhận ra mối quan hệ kinh tế giữa các thành phố và vùng nội địa của chúng. Sau đó, W. Christaller kết luận rằng, mọi người tụ tập lại với nhau ở các thành phố để chia sẻ hàng hóa và ý tưởng và rằng các cộng đồng - hoặc những nơi trung tâm- tồn tại vì lý do kinh tế thuần túy. Ngược lại, hàng hóa có đơn hàng cao là những mặt hàng chuyên biệt như ô tô , đồ nội thất, đồ trang sức mỹ nghệ và đồ gia dụng mà mọi người ít mua hơn. Bởi vì chúng yêu cầu một ngưỡng lớn và mọi người không mua chúng thường xuyên, nhiều cơ sở kinh doanh bán những mặt hàng này không thể tồn tại ở những nơi dân số ít. Vì vậy, các doanh nghiệp này thường đặt trụ sở tại các thành phố lớn có thể phục vụ một lượng lớn dân cư ở nội địa xung quanh.

[25] Eero Saarinen (1910-1961), sinh ra tại Kirkkonummi, Phần Lan. Là con của kiến trúc sư kỳ cựu người Phần Lan Eliel Saarinen, Eero Saarinen có những tố chất được thừa hưởng từ người cha để trở thành một trong những nhà thiết kế nổi tiếng của thế kỷ XX. Ông theo gia đình định cư tại Mỹ vào năm 13 tuổi tại Bloomfield Hills, bang Michigan nơi mà cha ông giảng dạy ở học viện Nghệ thuật Cranbrook. Tại nơi đây, ông đã học về điêu khắc và thiết kế đồ nội thất. Eero Saarinen cũng quen với các bạn học là nhà thiết kế nổi tiếng cùng thời như Charles và Ray Eames, ông trở thành bạn thân của nhà thiết kế Florence Knoll. Sau khi hoàn thành khoá học tại học viện, ông tiếp tục học kiến trúc tại đại học Yale quyết định khởi nghiệp là kiến trúc sư cùng với người cha của mình. Công trình thiết kế của ông luôn có yếu tố tạo hình và điêu khắc theo chủ nghĩa biểu hiện và mạch lạc, rõ ràng của chủ nghĩa Công năng châu Âu.

[27] François Perroux (1903-1987), lý thuyết “cực tăng trưởng” của ông ban đầu áp dụng trong lĩnh vực kinh tế sau đó là lĩnh vực đô thị và quy hoạch đô thị. Các “cực tăng trưởng” hay các trung tâm tăng trưởng thường được coi là đồng nghĩa với các thành phố hoặc các khu vực đô thị. Điều đó là phổ biến vì trong hầu hết các trường hợp, các tiêu chuẩn được đưa ra để xác định một trung tâm tăng trưởng đều là các đặc trưng của vùng đô thị.

[28] Growth Poles Theory (còn gọi là “hiệu ứng lan tỏa” hay “hiệu ứng phân cực” : Lý thuyết này cho rằng, Một vùng không có sự phát triển đồng đều ở mọi điểm trên lãnh thổ của nó theo cùng một thời gian, mà có xu hướng phát triển mạnh ở một số điểm nào đó. Trong khi đó ở một số nơi khác chậm phát triển hơn hoặc bị trì trệ. Các điểm phát triển mạnh và nhanh này thường có ưu thế, lợi thế so với toàn vùng và được gọi là các cực tăng trưởng (vị trí trung tâm).

[29] International Council Of Museums, Conseil International Des Musees.

[31] Kỳ quan Machu Picchu là di sản thế giới được UNESCO công nhận của Peru. Tọa lạc trên dãy núi Andes, Machu Picchu được xây dựng vào thế kỷ 15 và được một nhà thám hiểm người Mỹ phát hiện vào khoảng năm 1911. Kể từ đó, nó đã trở thành biểu tượng cho kiến trúc độc đáo của Đế chế Inca. Vào mùa cao điểm du lịch, tòa thành cổ Inca thu hút tới 5.000 du khách đến tham quan mỗi ngày. 

[32] Nguồn nước thô chính để sản xuất nước sinh hoạt cho thành phố Đà Nẵng được lấy trên sông Cẩm Lệ mà đây là lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn (tỉnh Quảng Nam). Thế nhưng, đầu nguồn của dòng sông này là hệ thống thủy điện khá dày đặc: thủy điện A Vương, Sông Bung 2, Sông Bung 4, Sông Bung 4A, Sông Bung 5, Sông Bung 6 (đều nằm ở thượng nguồn Quảng Nam), lượng nước xả về đến Đà Nẵng (hạ du sông Vu Gia) phụ thuộc vào yêu cầu hoạt động của các thủy điện này. Nhiều khi nhà máy nước Cầu Đỏ (cung cấp nước cho Đà Nẵng) không hoạt động được vì thiếu nước hoặc bị nhiễm mặn. Không ít lần, Cục Quản lý tài nguyên nước (Bộ Tài nguyên và môi trường) phải yêu cầu các đơn vị quản lý vận hành các hồ chứa ở Quảng Nam vận hành xả nước về hạ du liên tục để đảm bảo cấp nước cho Đà Nẵng. Tham kiến: https://tuoitre.vn/yeu-cau-thuy-dien-o-quang-nam-dam-bao-nuoc-cho-da-nang-20210407120219994.htm;https://tuoitre.vn/dap-tam-cuu-da-nang-khoi-nguy-co-thieu-nuoc-dip-tet-20200130092906137.htm

[33] Ngộp thở những khối bê tông 'khổng lồ' vươn trên bầu trời ngày nắng nóng. Tham kiến: https://tienphong.vn/ngop-tho-nhung-khoi-be-tong-khong-lo-vuon-tren-bau-troi-ngay-nang-nong-post1247812.tpo

[34] Xem: Nghị định số 42/2009/NĐ-CP ngày 07 tháng 05 năm 2009 của Chính phủ Về việc phân loại đô thị.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

PHẦN TẦNG XÃ HỘI: NỘI DUNG, BẢN CHẤT, TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN VÀ VẬN DỤNG VÀO THỰC TIỄN CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY

GIA ĐÌNH VÀ CHỨC NĂNG CỦA GIA ĐÌNH

CƠ CẤU DÂN SỐ THEO GIỚI TÍNH, ĐỘ TUỔI VÀ PHÂN BỐ DÂN CƯ