QUY HOẠCH VÀ QUẢN LÝ QUY HOẠCH ĐÔ THỊ TRONG TÌNH HÌNH MỚI
QUY HOẠCH VÀ QUẢN LÝ QUY HOẠCH ĐÔ THỊ TRONG TÌNH HÌNH
MỚI
1. Khái quát về quy hoạch đô thị
1.1.
Khái niệm quy hoạch đô thị
Đối với một đô thị,
việc hành thành một triết lý phát triển và sau đó là công tác quy hoạch đô thị,
quản lý quy hoạch đô thị là những công việc hệ trọng bởi nó quyết định đến xu
hướng, tính chất, quy mô, diện mạo của đô thị đó. Trong một đô thị, không gian
đô thị, không gian kiến trúc, cảnh quan cũng như hệ thống hạ tầng kỹ thuật và hạ
tầng xã hội là những nhân tố cấu thành chủ yếu. Do đó, việc bố trí, sắp xếp một
cách hợp lý, hài hòa, khoa học để phát triển một cách bền vững là nhiệm vụ thường
xuyên, liên tục của các nhà quản lý đô thị, chính quyền đô thị.
Hiện có nhiều
khái niệm về quy hoạch đô thị nhưng nội hàm của nó chủ yếu là thể hiện sự phân
bố, bố trí một cách hợp lý các nguồn lực để phù hợp với triết lý, tính chất,
quy mô và xu hướng phát triển của đô thị ở thời điểm hiện tại và tương lai. Điều
3, Luật Quy hoạch đô thị của Việt Nam xác định: “Quy hoạch đô thị là việc tổ chức không gian, kiến trúc, cảnh quan đô thị,
hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình hạ tầng xã hội và nhà ở để tạo
lập môi trường sống thích hợp cho người dân sống trong đô thị, được thể hiện
thông qua đồ án quy hoạch đô thị”[1].
Như vậy, nội dung
của quy hoạch đô thị là tổ chức, sắp xếp không gian, kiến trúc, cảnh quan, hạ tầng
kỹ thuật và hạ tầng xã hội; mục đích của quy hoạch đô thị là tạo lập môi trường
sống thích hợp; chủ thể quy hoạch là cơ quan hữu quan nhà nước và người dân; sản
phẩm thể hiện của công tác quy hoạch là các đồ án quy hoạch, là căn cứ để tiến
hành kiến tạo, xây dựng và quản lý đô thị.
1.2.
Đặc trưng của quy hoạch đô thị
Quy hoạch đô thị
là một hoạt động mang tính pháp lệnh, là một quá trình phải tuân thủ theo các
nguyên tắc khoa học, dựa trên tri thức chuyên ngành và tổng hợp; là định hướng
hành động và các hành vi của chính quyền đô thị cũng như các cơ quan có chức
năng quản trị đô thị, nhất là hoạt động xây dựng, kiến thiết đô thị. Như đã đề
cập, đối với một xã hội dân chủ, một nhà nước của dân, do dân, vì dân thì hoạt
động và quá trình quy hoạch đô thị cần phải có sự tham gia của nhân dân và các
chủ thể xã hội khác để nâng cao tính tham gia, tính hợp lý và tính khoa học.
Quy hoạch đô thị bao trùm nhiều lĩnh vực, nhiều hạng mục, nhiều yếu tố để phục
vụ cho quá trình kiến thiết đô thị cũng như xu hướng phát triển đô thị. Quy hoạch
đô thị hiện đại có những tính chất, đặc trưng cơ bản sau
Thứ nhất, tính pháp lệnh-pháp lý và uy quyền. Quy hoạch đô
thị có liên quan trực tiếp đến lợi ích thiết thân của người dân và các chủ thể
khác trong xã hội đô thị. Hướng đến “tạo
lập môi trường sống thích hợp cho người dân sống trong đô thị” tức là đạt
được mục tiêu công, sản phẩm công và phục vụ công. Trong quá trình quy hoạch đô
thị, chính quyền đô thị (với tư cách là chủ thể chịu trách nhiệm chính về công
tác quy hoạch) cần phải lắng nghe ý kiến của nhân dân và đảm bảo lợi ích của thị
dân, tạo cơ chế và cỗ vũ sự tham gia của nhân dân để họ góp tiếng nói vào hoạt
động quy hoạch. Một khi đồ án quy hoạch đã được thống nhất và công bố thì đó là
“sức mạnh tổng hợp” thể hiện ý chí, nguyện vọng, mục tiêu của nhà nước và nhân
dân (ý Đảng, lòng dân), lúc đó hiệu lực pháp luật của đề án quy hoạch được xác
định, tính pháp lý được xác lập. Tức là tất cả người dân, pháp nhân và tổ chức
khác phải tôn trọng, tuân thủ, phục tùng; vừa thể hiện tính nhất quán, vừa thể
hiện sức mạnh uy quyền[2].
Thứ hai, tính chiến lược. Công tác quy hoạch đô thị vừa phải giải quyết các vấn đề
hiện thực của đô thị nhưng phải suy nghĩ đến yêu cầu phát triển trong tương lai
của thành phố. Đương nhiên, cần phải thừa nhận một điều ra, giải quyết vấn đề
trước mắt đã khó, xác định các vấn đề (có thể xảy ra và tiên liệu các xu thế,
khuynh hướng) trong tương lai là điều không dễ dàng, nếu không muốn nói là rất
khó khăn. Một điều đơn giản, lý tính và khả năng “tiên tri” của con người
(trong đó có các nhà lãnh đạo, quản lý đô thị) là có hạn; khả năng (kỹ năng)
phân tích các vấn đề hiện tồn, nắm bắt và phân tích các dữ liệu thực chứng để
tìm kiếm các mối tương quan, dự báo các xu hướng có thể phát sinh càng là công
việc đòi hỏi tính chuyên môn khoa học cao, do đó dự báo, xác định xu hướng phát
triển của thành phố trong tương lai thể hiện qua công tác quy hoạch là một nan
đề (vấn đề nan giải). Nói một cách dễ hiểu, dựa vào các kinh nghiệm và tri thức
của hiện tại để phán đoán, tiên liệu vấn đề trong tương lai là việc khó. Thế
nhưng, nếu tiệm cận đến khoa học, dựa vào các công cụ và tri thức khoa học (nhất
là khoa học thực chứng, khoa học dự báo) thì chí ít chúng ta cũng có thể nắm bắt
được xu hướng chủ đạo của một quá trình, một sự kiện, một hiện tượng, vấn đề xã
hội, từ đó định hướng được trong công tác quy hoạch đô thị. Một đồ án quy hoạch
sẽ thiếu tính thuyết phục và ít có giá trị khi bản thân nó thiếu tính định hướng
chiến lược, thiếu tầm nhìn.
Thứ ba, tính tổng thể - tổng hợp. Đô thị là một hệ thống lớn, phức hợp gồm nhiều
thành tố tổ thành (tiểu hệ thống) như kinh tế, môi trường, hạ tầng, văn hóa, lối
sống,... mỗi một “tiểu hệ thống” đều có chức năng, nhiệm vụ của nó nhưng phải
“tương thích” với hệ thống “mẹ”. Khu thực hiện công tác quy hoạch, vì nhiều lý
do khác nhau (kiến thức, sự tham gia, lợi ích,....) mà thông thường chúng ta bị
“che mờ” hay “bỏ quên” một số khía cạnh, lĩnh vực. Do đó, yêu cầu trong công
tác quy hoạch là phải có tính tổng hợp, tính hệ thống, tính chỉnh thể, tính
liên đới, tính hữu cơ. Chẳng hạn, khi chúng ta tiến hành quy hoạch không gian
đô thị (kết cấu không gian), phong cách kiến trúc, bố cục ngành nghề, công viên
cây xanh thì phải suy nghĩ đến yếu tố phát triển kinh tế-xã hội, đến địa
lý-nhân văn, thậm chí đến lĩnh vực (nhu cầu) tôn giáo-tín ngưỡng. Ngoài ra,
tính tổng thể - tổng hợp còn yêu cầu phải khớp nối với địa phương, vùng và các
đô thị lân cận; giữa các “tiểu hệ thống” với nhau, chẳng hạn hệ thống sân bay,
bến cảng phải khớp nối được với đường giao thông trên bộ như hệ thống metro, hệ
thống xe bus công cộng,....; khớp nối giữa không gian mặt đất, không gian trên
cao với không gian ngầm; khớp nối giữa các tòa nhà chung cư với hệ thống giao
thông (sức tải của giao thông),...
Thứ tư, tính ổn định. Quy hoạch đô thị mang tính pháp lý và là một “văn kiện” mang
tính định hướng, là “cương lĩnh” cho hành động kiến tạo, xây dựng, phát triển
đô thị; quyết định đến xu hướng phát triển, diện mạo và vị thế của thành phố
trong tương lai. Do đó, quy hoạch đô thị mà cụ thể là các đồ án quy hoạch phải
mang tính ổn định (chí ít là trong một khoảng thời gian đủ dài – tính chiến lược),
tránh “sửa đi, sửa lại”, quy hoạch một đàng làm một nẻo[3],
nhiều bất cập trong toàn bộ tiến trình quy hoạch đô thị khiến cho công tác xây
dựng đô thị không theo định hướng, thiếu tầm nhìn, thậm chí lộn xộn[4].
Đương nhiên, chúng ta cũng cần bình tĩnh nhìn nhận, quy hoạch đô thị không phải
là nhất thành bất biến (có thể bổ sung, sửa đổi, thay đổi) mà cũng có thể điều
chỉnh để phù hợp với những vấn đề mới nảy sinh (chẳng hạn, trước khi phát sinh
đại dịch COVID-19, khó có thể lường trước được một vấn đề dịch bệnh toàn cầu
như thế trong công tác quy hoạch các phân khu chức năng về lĩnh vực y tế công
đô thị - chí ít là quỹ đất xây dựng bệnh viện dã chiến phòng chống dịch bệnh).
Thế nhưng, một đồ án quy hoạch sẽ mất giá trị khi liên tục điều chỉnh, thay đổi,
vừa khó khăn trong hoạt động kiến tạo đô thị, vừa mất niềm tin của nhân dân đối
với hoạt động quy hoạch và quản lý quy hoạch đô thị.
1.3.
Vai trò của quy hoạch đô thị
Như đã đề cập ở
trên, một đô thị muốn phát triển một cách bền vững không thể không thực hiện
công tác quy hoạch. Nói cách khác, quy hoạch là “kim chỉ nam” cho hành động kiến
tạo đô thị, là phương hướng phát tiển trong tương lai của thành phố. Vai trò của
công tác quy hoạch thể hiện ở một số bình diện cụ thể sau”
Một là, khai thác, sử dụng hợp lý nguồn lực đất đai. Quy hoạch đô thị là căn cứ, cơ
sở nền tảng cho hoạt động quản lý và xây dựng đô thị. Một đề án, đồ án quy hoạch
có giá trị và thông minh luôn thể hiện sự tiết kiệm các nguồn lực, nhất là nguồn
lực đất đai – một nguồn lực có giá trị và hạn hữu của đô thị. Khai thác nguồn lợi
đất đai cho các hoạt động kiến tạo đô thị, phục vụ nhu cầu phát triển đô thị
luôn căn cứ vào đồ án quy hoạch. Do đó, một đồ án quy hoạch khoa học, phù hợp
giúp cho hoạt động quản lý đất đai tốt hơn; định hướng tốt cho hoạt động khai
thác, sử dụng hợp lý nguồn lực đất đai; hạn chế tối đa việc lãng phí, sai mục
đích nguồn lực quý giá – đất đai đô thị.
Hai là, hình thành bố cục đô thị một cách hợp lý. Căn cứ vào triết lý, mục tiêu
phát tiển kinh tế-xã hội cũng như các nguồn lực hiện hữu, năng lực sản xuất để
bố cục và bố cục lại “bức tranh” đô thị một cách hợp lý, khoa học. Đó là nhiệm
vụ của quy hoạch đô thị. Để làm được điều đó, cần phải tiến hành nghiên cứu, khảo
sát, nắm bắt thực trạng của từng lĩnh vực như điều kiện tự nhiên, điều kiện xã
hội, an ninh-quốc phòng,… để xác định tính chất, quy mô, hình thái phát triển
đô thị; lựa chọn phương hướng phát triển thành phố trong tương lai.
Ba là, nâng cao hiệu quả, hiệu ứng tổng hợp đô thị. Quy hoạch đô thị sẽ giúp tối
ưu hóa không gian, kết cấu, bố cục và góp phần chế ước các hành vi vi phạm đến
lợi ích công cộng, đến công năng tổng thể của đô thị; cho phép và cỗ vũ hành vi
tích cực trong xây dựng cơ sở hạ tầng đô thị; giải quyết, hòa giải các xung đột
(nhất là xung đột lợi ích giữa các nhóm, chủ thể trong đô thị); định hướng hướng
đi cho đô thị theo hướng ít can thiệp thô bạo đến các nguồn lực và lợi ích
chính đáng của nhân dân. Trong đó, điều hòa lợi ích tổng thể để nâng cao hiệu quả
tổng hợp cho thành phố: giữa trước mắt và lâu dài; giữa các bộ phận chức năng với
tổng thể thành phố; giữa kinh tế với xã hội và môi trường; giữa lợi ích tư và lợi
ích công,...
Bốn là, cân bằng hệ sinh thái đô thị. Hệ sinh thái đô thị là một hệ thống động và
có mối liên hệ liên đới nhau, tổ thành môi trường tồn tại của một thành phố. Nếu
một khu vực (của thành phố) mà mật độ công xưởng, nhà máy quá dày đặc; mật độ
công trình kiến trúc quá cao; mức tập trung dân cư quá lớn,... thì sẽ kéo theo hệ
lụy về giao thông, nước thải, không khí và nhiều vấn đề xã hội khác nảy sinh.
Lúc đó ô nhiễm môi trường là điều khó tránh khỏi, mất cân bằng hệ sinh thái là
đương nhiên; năng lực phục vụ (điện, nước,...) sẽ khó đáp ứng. Do đó, quy hoạch
mà đặc biệt là quy hoạch môi trường đô thị có vai trò quan trọng trong việc bảo
vệ môi trường, cân bằng hệ sinh thái đô thị.
Năm là, bảo đảm giao thông thông suốt. Hệ thống giao thông được ví như mạch máu của
cơ thể đô thị. Trong công tác quy hoạch đô thị thì quy hoạch mạng lưới giao
thông (đường giao thông, phương tiện giao thông; giao thông tĩnh, giao thông động;
giao thông cá nhân, giao thông công cộng; giao thông nội, giao thông ngoại,...)
đóng vai trò hết sức quan trọng. Một trong những “căn bệnh” của đô thị (vừa và
lớn) ở nước ta (và không ít các quốc gia đang phát triển khác) là vấn nạn tắc
đường, kẹt xe (ở đây không nói đến hiện tượng ùn tắc thông thường trong giờ cao
điểm). Do đó, công tác quy hoạch (tùy theo triết lý và khả năng của nhà quản lý
đô thị) giao thông đô thị thường phải đi trước, có tầm nhìn để định hướng phát
triển và tránh đi hiện tượng tắc đường nghiêm trọng. Thông thường, các đô thị lớn
thì hướng quy hoạch đa trung tâm, quy hoạch kiểu “đô thị phân tán” để bố cục lại
mạng lưới giao thông. Quy hoạch không tốt sẽ gây nên hiện tượng tắc đường thường
xuyên làm tổn hại đến sức khỏe, của cải của nhân dân và xã hội. Ngược lại, nếu
quy hoạch có tầm nhìn, khoa học thì sẽ là “bùa hộ mệnh” cho bài toán giao thông
đô thị.
Sáu là, xây dựng hình tượng, sức hấp dẫn cho đô thị. Mỗi đô thị có văn hóa, lối sống,
lịch sử và vị trí tọa lạc khác nhau và như thế có những nét độc đáo, sức hấp dẫn
riêng. Quy hoạch đô thị vừa bảo vệ và tô đậm thêm những lớp trầm tích lịch sử,
khơi gợi những nét văn hóa được chạm khảm vào trong đời sống xã hội để gia tăng
diện mạo và khắc họa hình tượng độc đáo của chúng. Có những thành phố khi đặt
chân đến một lần đã để lại cho du khách một ấn tượng khó quên bởi hệ thống kiến
trúc, mảng cây xanh hay lối sống độc đáo của thị dân. Có được điều đó không thể
không nói đến công tác quy hoạch và định hướng phát triển. Quy hoạch không tốt
không những không tạo nên hình tượng mà còn có thể “băm nát” những giá trị lịch
sử, nét văn hóa và các nguồn lực, hệ sinh thái đô thị[5].
2.
Lý luận về quy hoạch đô thị
Sau khi hình
thành các đô thị cổ đại, nhân loại bắt đầu nghiên cứu, tìm kiếm thực tiễn về
công tác quy hoạch. Lý luận quy hoạch đô thị bắt đầu từ thực tiễn và quay về chỉnh
đạo, định hướng các hành động thực tiễn ở một tầm cao mới, bước tiếp mới. Lý luận
quy hoạch đô thị có bước đi và lịch sử phát triển của nó, sau đây là một số
giai đoạn phát triển chủ yếu.
2.1.
Lý luận về quy hoạch đô thị cổ đại
Hy Lạp cổ đại và
La Mã cổ đại là các quốc gia có tư tưởng quy hoạch đô thị từ rất sớm, các thành
phố bàn cờ tại Miletus của Hyppodamus là điển hình đặc trưng của triết lý quy
hoạch đô thị Hy Lạp cổ đại. Thành phố được chia theo các lô phố với kích thước
47,2m x 25,4m, theo hệ thống đường ô cờ với hai hướng chính nam-bắc và đông-tây.
Tuyến đường đông-tây rộng 7,5 m đi qua trung tâm có thể đi xe, tuyến đường bắc-nam
rộng 3-4m có độ dốc lớn chủ yếu dành cho đi bộ. Trong thành phố có các trung
tâm, nơi tập trung các đền thờ và nhà ở của các quan tòa cao cấp, và các quảng
trường chính, nơi tập trung các hoạt động thương nghiệp và hành chính của thành
phố. Suốt trong mấy thế kỷ trước công nguyên do chính trị cổ Hy Lạp tiến bộ nên
đô thị Hy Lạp cổ đại được phát triển mạnh mẽ, đã hình thành quan điểm thành phố
nhà nước lý tưởng cơ quy mô 10.000 dân được chia thành ba phần và 3 cấp theo hệ
thống luật lệ[6].
Trong thời kỳ
Trung cổ, triết lý và tư tưởng quy hoạch đô thị Châu Âu bị chi phối bởi yếu tố
thần học, thần quyền và đẳng cấp. Thông thường, trung tâm các thành phố là các
giáo đường và tòa thị chính; mật độ nhà ở khu trung tâm rất dày đặc, đường sá
thường nhỏ hẹp. Các khu vực ngoại ô và vùng nông thôn lân cận thành phố, nơi có
môi trường trong lành và phong cảnh hữu tình, là nơi là các lãnh chúa phong kiến
và tầng lớp quy tập xây dựng các thôn trang hoặc nhà ở kiểu thành quách.
Trong thời kỳ Phục
Hưng (từ thế kỷ 15-16), sợi xích thần quyền bị phá bỏ và thay vào đó là tư tưởng
chủ nghĩa nhân văn. Lý luận quy hoạch đô thị cũng chịu tác động sâu sắc: nhân
tính thay thế bởi thần tính; nhân quyền thay thế bởi thần quyền. Quảng Trường
Thánh Marco (St. Mark Square) ở thành phố Venice là một minh chứng, đại diện nổi bật cho kiểu quy hoạch đô thị theo
triết lý của chủ nghĩa nhân văn của thời kỳ này. Tư tưởng quy hoạch đô thị nhân
văn đã bắt đầu dẫn dắt con người đến “thành phố lý tưởng”. Trong tác phẩm
“Thành phố lý tưởng”, một kiến trúc sư người Ý là Filarete[7]
đã thiết kế trung tâm thành phố thành một quảng trường hình lục giác, đường
xuyên tâm của nó được kết nối với 3 đường vành đai.
2.2.
Lý luận quy hoạch đô thị thời cận đại
Cuộc cách mạng
công nghiệp cận đại đã khiến cho làn sóng di cư từ nông thôn đến đô thị rất lớn,
hàng ngàn người di chuyển đến thành phố để tìm việc làm, sinh kế và chỗ ở, hình
thành làn sóng thứ nhất về tiến trình đô thị hóa và thúc đẩy quá trình phát triển
đô thị. Cùng với tốc độ đô thị hóa ngày một gia tốc thì các vấn đề đô thị cũng
theo đó mà nảy sinh một cách trầm trọng: ùn tắc và ách tắc giao thông, môi trường
ô nhiễm, ngập úng, khí thải. Đó là những “căn bệnh đô thị”. Để giải quyết và cải
thiện môi trường sinh thái đô thị, bắt đầu từ niên đại 60 của thế kỷ XIX, triết
lý và lý luận về quy hoạch đô thị đã chú trọng về đề xuất các mảng xanh đô thị,
hình thành các khu công viên cây xanh chiếm tỷ trọng nhất định trong một thành
phố. Năm 1859, kiến trúc sư cảnh quan người Mỹ là Frederick Law Olmsted[8], đã thiết
kế hàng loạt các công viên công cộng nổi bật, bắt đầu với công viên Trung tâm
thành phố New York, sau đó là các công viên ở thành phố Buffalo, Detroit, Chicago
và Boston. Hệ thống công viên hình thành đã góp phần giảm thiểu mật độ các khu
nhà ở, cải thiện đáng kể môi trường sinh thái đô thị. Sau này, trong tiến trình
quy hoạch đô thị thường chú trọng đến công tác quy hoạch công viên, cây xanh,
trở thành triết lý quy hoạch đô thị và phân bố các khu chức năng tương ứng.
Năm 1882, Arturo Soria y Mata[9], kiến trúc sư người Tây
Ban Nha đã đề xuất mô hình “thành phố chuỗi” (thành phố dải, thành phố tuyến
tính,...). Mata cho rằng thành phố chuỗi có một số ưu điểm sau: (1) các chuỗi đô
thị được kiến tạo dọc các tuyến giao thông, một bên dành cho các khu công nghiệp,
bên còn lại là khu dân cư, không tác động và ảnh hưởng nhiều đến đời sống sinh
hoạt của các khu dân cư; (2) đại bộ phận dân cư đều di chuyển (giao thông) hai
bên “tuyến” nên có thể tiết kiệm thời gian; (3) do chiều ngang của đô thị chuỗi
không lớn nên sự liên hệ qua lại, giao thông giữa khu vực đô thị với nông thôn
được tiến hành thuận lợi; (4) các chuỗi đô thị sẽ được kết nối lại với nhau từ
đó hình thành nên mạng lưới, hệ thống đô thị lớn. Lý luận về “đô thị chuỗi” có ảnh
hưởng tương đối lớn trong quy hoạch và kiến tạo các đô thị ở tây Âu thời bấy giờ.
Cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, xuất phát từ ý tưởng và nền tảng từ của
triết lý “thành phố lý tưởng” từ thời kỳ Phục Hưng, Ebenezer Howard[10]
đã đề xuất ý tưởng một mô hình thành phố có sự kết
hợp giữa nông thôn và đô thị là “thành phố vườn” (Garden City). Cuốn sách nổi
tiếng của ông là Garden Cities of Tomorrow (Thành phố vườn của tương
lai) được ấn bản năm 1898 đã “phá vỡ” ý niệm trước đó về đối lập không gian giữa
đô thị và nông thôn trong quy hoạch đô thị, trở thành một ý niệm, một học thuyết
mới về quy hoạch đô thị: “thành phố vườn”.
Ebenezer Howard
đã phân tích thành phố có một lực hút lớn kiểu nam châm, mà ở đó mỗi người dân
là một cái kim. Howard coi thành phố là thanh nam châm thứ nhất, nông thôn là
nam châm thứ hai, còn sáng tạo các “Thành phố vườn” của ông là thanh nam chậm
thứ ba nhằm bảo đảm việc san sẻ bớt dân số đô thị đông đúc ở các thành phố lớn.
Theo Howard thì thành phố tuy có thể có tiện nghi tốt và hoạt động văn
hoá phong phú nhưng nông thôn lại có ưu thế về đời sống lành mạnh và yên tĩnh.
Vì vậy, chỉ có thành phố vườn của ông mới có cả ưu điểm của đô thị lớn lẫn lợi
thế của nông thôn, và thành phố vườn ra đời sẽ là đối tượng dung hoà được những
mâu thuẫn giữa đô thị và nông thôn, bảo đảm cho con người sống một cuộc sống
hài hoà. Theo Howard, bằng việc khống chế từ tính đối với các đô thị lớn mới
triệt để bỏ được sự bành trướng vô tổ chức, mù quáng của đô thị, và cũng chỉ bằng
việc tạo một cơ cấu thống nhất toàn bộ đất đai của đô thị mới loại bỏ được nạn
đầu cơ.
Quan niệm của
Howard được xem là chìa khoá để mở cửa cho sự khủng hoảng của đô thị tư bản-khi
mà con người nhận thức ra được mặt trái của sự phát triển quá mức cuả thành phố
công nghiệp thời bấy giờ. Giới kiến trúc nhiệt liệt chào đón ý niệm “thành phố
vườn” như một giải pháp lý tưởng giúp họ tìm lối đi cho hoạt động xây dựng đô
thị lúc ấy đang bế tắc về phương hướng. Ảnh hưởng của nó khá sâu và được phát
triển thêm về lý luận cũng như được ứng dụng vào thực tiễn xây dựng ở nhiều quốc
gia.
Theo Howard thì,
các “thành phố vườn” có dạng hình tròn, hướng tâm. Mỗi thành phố vườn đáp ứng
khoảng 32.000 dân với diện tích khoảng 400ha, còn vòng ngoài 2000ha nữa là khu
cây xanh “vĩnh cửu”, là đất dùng vào mục đích nông nghiệp, tổng cộng mỗi vùng
đô thị sẽ chiếm 2400ha. Khi phát triển vừa tới quy mô nói trên thì thôi không
tăng dân số nữa, nếu cần thì xây dựng thêm đô thị khác. Với mỗi 400ha đất “nội
thị” đó có một loạt các vòng tròn đồng tâm và được chia đều ra các phần bằng
nhau bằng 6 con đường lớn, rộng 36m xuyên qua thành phố xuất phát từ trung tâm,
chia thành phố thành sáu phần đều nhau, đó là các khu ở. Ở chính tâm, một không
gian vòng tròn khoảng 2,2ha được dành làm một vườn hoa đẹp. Các công trình công
cộng lớn được đặt quanh vườn hoa này như toà thị chính, nhà hoà nhạc và hội họp,
nhà hát, thư viện, bảo tàng, nhà triển lãm hội hoạ và bệnh viện... Một tuyến xe
lửa sẽ được chạy vòng quanh phía ngoài để chở hàng đến các nhà máy, tránh được
hiện tượng các xe tải chạy xuyên qua thành phố. Vành ngoài của thành phố vườn
được đặt nhà máy, xí nghiệp...[11]. Hiện tại, lối kiến trúc và kiểu quy hoạch của nhiều thành phố trên thế giới
đã thiết kế theo phong cách “thành phố vườn” của Howard, có thể kể đến là thành
phố Sheffield (Anh), thành phố Winston-Salem (Mỹ), thành phố Cairns (Úc), thủ đô Canberra
(Úc), Singarore,...
2.3.
Lý luận về quy hoạch đô thị hiện đại
Sự đột phá về lý
luận đối với quy hoạch đô thị bắt đầu từ thế kỷ XX với lý thuyết cấu trúc-chức
năng[12].
Năm 1910, kiến trúc sư người Pháp là Tory Tanner đã tiến hành quy hoạch đô thị
theo các phân khu chức năng: khu công nghiệp, khu giáo dục, khu đường sắt, khu
cư trú, khu bến cảng,... Đến năm 1915, trong cuốn sách “Sự tiến hóa của các
thành phố”[13],
Patrick Geddes[14] là người dầu tiên đề xuất trong quy hoạch một thành
phố phải tính đến phân khu kinh tế và cho rằng, công tác quy hoạch phải tuân thủ
các nguyên tắc, tiến trình từ điều tra (survey) -phân tích (analysis) - chế định
chính sách quy hoạch (plan).
Thông qua việc phân tích “quá
trình tiến hóa của đô thị”, Patrick Geddes
đã đưa ra nhận xét khá độc đáo: sự phi tập trung hóa (decentralization) các đô
thị lớn ra các khu vực ngoại thị (mà bây giờ người ta còn gọi là hiện tượng ngoại
thị hóa – suburbanization) sẽ dẫn tới sự kết dính các đô thị nhỏ
thành những kết tụ đô thị (urban agglomerations) mà ông gọi là conurbations (vùng
đô thị hóa). Ông cũng là người đưa ra khái niệm world city (đô thị thế giới) để chỉ những đại đô thị (primate
cities) mà tầm quan trọng của chúng về dân số (chung quanh 10 triệu trở lên)
kinh tế, văn hóa, kinh doanh, tài chính… vượt ra xa khỏi ranh giới quốc
gia và giữ vai trò đầu tàu trong nền kinh tế toàn cầu.
Năm 1922, kiến
trúc sư Le Corbusier[15],
trong cuốn sách “Thành phố tương lai”[16]
đã nhận định rằng, hình mẫu đô thị truyền thống không còn phù hợp khi mà các
thành phố ngày càng phình to và trở nên chật chội. Sự chật chội này có thể giải
quyết thông qua việc tăng hệ số sử dụng đất bằng việc tăng tầng cao xây dựng. đồng
thời giảm mật độ xây dựng nhằm để lại một diện tích xanh đáng kể trên mặt đất.
Le Corbusier nhấn mạnh rằng, với những công trình cao tầng, 95% diện tích đô thị
sẽ là không gian mở (công viên, quảng trường và đường giao thông). Mục tiêu của
Le Corbusier là đạt được mật độ cao, khoảng 2.500 người/hecta đồng thời giành
được một diện tích không gian xanh đáng kể. Thứ ba, Le Corbusier, với ý tưởng về
những khu dân cư cao tầng và hệ thống đường sắt nội đô, đề xuất sự phân bố đều
mật độ khắp thành phố thay vì chỉ tập trung vào trung tâm như trước kia. Cuối
cùng, hình thức đô thị mới này, Le Corbusier lập luận, sẽ không chỉ giúp giảm
áp lực lên khu trung tâm mà còn phân tán giao thông đều khắp đô thị thay vì tập
trung vào hệ thống đường hướng tâm. Ông cũng cho rằng mô hình đô thị mật độ cao
mà ông đề xuất sẽ phù hợp với hệ thống giao thông hiện đại bao gồm đường sắt nội
đô và đường cao tốc trên cao so với mặt đất nhưng vẫn thấp hơn nhà ở của người
dân. Vào những năm 1920, Le Corbusier được coi là cha đẻ của ý tưởng về hệ thống
giao thông khác mức, rất lâu trước khi những hệ thống như thế ra đời tại Los
Angles và trên khắp thế giới.
Những ý tưởng về
đô thị của Le Corbusier, với cách trình bày tới công chúng tương đối cực đoan,
không dễ dàng trở thành hiện thực, đặc biệt là vào những năm tháng chiến tranh
của nửa đầu thế kỷ 20. Bản thân Le Corbuiser cũng cảm thấy sốt ruột và bối rối
với thất bại của bản thân trong việc hiện thực hóa những ý tưởng. Tuy nhiên, ảnh
hưởng của ông trở nên mạnh mẽ hơn vào thời kỳ hậu chiến khi châu Âu bước vào
giai đoạn tái thiết quy mô lớn[17].
Năm 1922, với tư
cách là Tổng cố vấn, Ủy ban quy hoạch Luân Đôn, Vương quốc Anh, kiến trúc sư Raymond
Unwin[18],
phát triển một cách sáng tạo ý tưởng thành phố lý tưởng của E. Howard và đề xuất mô hình “đô thị vệ tinh”. Mô
hình này cũng vẫn phạm một nhược điểm, là lặp lại cấu trúc của mô hình đô thị
truyền thống, với các chức năng chính nằm kẹt ở trung tâm, do đó không thể bành
trướng, để đáp ứng sự phát triển của đô thị trong tương lai.
Gần cùng một thời
điểm, vào năm 1923, Robert Whitten đưa ra một mô hình Đô thị Vệ tinh
khác, có nhiều điểm được cải thiện so với mô hình của Unwin, nhưng vẫn là những
sơ đồ quy hoạch đồng tâm. Một đơn vị mô hình “Đô thị Vệ tinh” của Whitten gồm
có một vệ tinh chính ở trung tâm, với chức năng thương mại, xung quanh là 8 vệ
tinh khác, với những chức năng khác nhau. Các không gian cây xanh, được mở rộng
ra, nhưng đó là những không gian trong đó không ai được phép xây dựng (non
aedificandi), chứ không phải là đất nông nghiệp. Trên cả hai mô hình Đô thị Vệ
tinh này, người ta thấy vấn đề giao thông chưa được đặt ra một cách rõ ràng ở
quy mô một vùng lớn, và ở quy mô lãnh thổ[19].
Tuy nhiên, cần phải
nhấn mạnh rằng, mô hình “Đô thị vệ tinh” đã khắc phục được những vấn đề mà các
đô thị lớn (đơn trung tâm) gặp phải là giao thông, môi trường, nhà ở,.. và hướng
các đô thị phát triển ra các vùng lân cận, vùng ven. Chịu tác động của lý luận
này, nhiều quốc gia trên thế giới như Anh, Pháp, Mỹ, Nhật, Nga, một số nước
Đông Âu,... đã kiến tạo nhiều đô thị vệ tinh xung quanh các đô thị lớn hiện hữu.
Thành phố Hồ Chí Minh của Việt Nam cũng đã kiến tạo không ít các đô thị vệ
tinh, kể cả mô hình thành phố Thủ Đức hiện nay. Cần lưu ý, mối quan hệ qua lại
giữa các thành phố lớn (lõi – trung tâm) và các thành phố vệ tinh không còn giữ
ở trạng thái một chiều, mà thay vào đó là sự tương tác hỗ trợ chức năng cho
nhau để tạo nên sự hoàn thiện hơn về mọi mặt…
Năm 1929, kiến
trúc sư, nhà quy hoạch, nhà xã hội học người Mỹ là Clarence Perry[20]
đã đề xuất lý luận “đơn vị ở”[21].
Theo quan điểm của C. Perry, các loại xe hơi (xe có động cơ) không nên đi vào
các khu dân cư, hình thành ý tưởng chủ đạo trong kiến tạo các “tiểu khu” trong
quy hoạch đô thị. Quan điểm của “Đơn vị
láng giềng” là lấy các tuyến đường lộ là “ranh giới” cho các khu dân cư và
trong quy hoạch đô thị cần chú ý nguyên tắc: (1) Lấy tiêu chuẩn về quy mô sử dụng
đất đô thị và học sinh (tiểu học) khi đến trường không phải “qua đường” là tiêu
chí “đơn vị láng giềng”; (2) Một “đơn vị láng giềng” cần hoàn thiện các yêu cầu
và nhu cầu thiết yếu phục vụ đời sống hằng ngày của cư dân; (3) Trong “đơn vị
láng giềng” có hệ thống giao thông nội bộ và hạn chế các xe cộ bên ngoài “đi
xuyên qua”; (4) Bố trí nhà ở cần phải theo một hướng thích hợp và khoảng cách
giữa các hộ phải hợp lý.
Một cách tiếp cận
và diễn giải khác về “đơn vị ở” là cần phải đảm bảo: (1) Quy mô dân số của một “đơn vị ở” phải đảm bảo tối thiểu
cho một trường tiểu học hoạt động; (2) Thương mại được phát triển tại rìa
của cộng đồng, nơi giáp ranh với các khu dân cư kế cận và đường giao thông đối
ngoại; (3) Công viên và các không gian nghỉ dưỡng, thể dục – thể thao
ngoài trời cần được bố trí; (4) Ranh giới của cộng đồng được xác lập rõ
ràng bằng đường giao thông đối ngoại bao bọc; (5) Công trình công cộng như
trường học, nhà trẻ cần được tập trung xung quanh một khu vực trung tâm của cộng
đồng; (6) Đường giao thông nội bộ cần được thiết kế tỷ lệ thuận với lưu lượng
dự đoán và không khuyến khích giao thông xuyên cắt từ bên ngoài
Đây là một trong
số các mô hình thiết kế cộng đồng có ảnh hưởng nhất thế kỷ XX, đặc biệt là tại
Bắc Mỹ, “đơn vị ở” được đề xuất như là một công cụ xã hội đầy tinh tế nhằm giúp
cho con người xác định được bản sắc và đặc trưng cá nhân trong mối liên hệ với
cộng đồng và địa danh nơi họ sinh sống.
Tuy nhiên, chính
những ý tưởng xã hội của mô hình tạo ra thách thức cho bản thân nó. Các nghiên
cứu cho thấy “đơn vị ở” thực tế không giúp gia tăng giao tiếp trong cộng đồng.
Thêm nữa, do vị trí công trình công cộng đặt tại trung tâm và được thiết kế cho
mô hình gia đình lý tưởng nên chỉ sau một thế hệ, khi mà trẻ em lớn lên thì những
công trình này trở nên trống vắng và hoang phí. Nhấn mạnh vào xây dựng tính cộng
đồng nội tại, tách biệt với bên ngoài để kiểm soát giao thông, tách biệt các loại
hình sử dụng đất, hạ tầng xã hội được thiết kế nhằm phục vụ một quy mô dân số
và hình mẫu gia đình nhất định, mô hình không thể đáp ứng những biến đổi của xã
hội luôn diễn ra không ngừng nghỉ đang trở thành một thách thức lớn cho việc
tái thiết các thành phố tại Bắc Mỹ[22].
Năm 1933, nhà địa
lý học người Đức là Walter Christaller[23]
đã đề xuất lý thuyết “vị trí trung tâm” (Central Place Theory). Để hình
thành “lý thuyết vị trí trung tâm”, W. Christaller đã đi sâu vào giải
thích những mối quan hệ giữa giá cả, lượng tiêu thụ hàng hóa và chi phí giao
thông. Như vậy vùng thị trường ở đây là ranh giới phụ thuộc vào 2 thành tố: (1)
Ranh giới xa nhất mà ở đó khách hàng chấp nhận chi phí giao thông đến trung tâm
mua một loại sản phẩm; (2) Ranh giới nào mà trong khu vực đó có lượng khách
hàng tiêu thụ của trung tâm, đảm bảo duy trì sự hoạt động của trung tâm. Ông đã
đưa ra 2 khái niệm “ngưỡng” (threshold) và “phạm vi” (range), trong
đó khái niệm “ngưỡng” chỉ mức độ tối thiểu về nhu cầu để duy trì một loại dịch
vụ, “phạm vi” chỉ khoảng cách tối đa mà một người mua có thể chấp nhận trả chi
phí cho các dịch vụ kể cả chi phí giao thông.
Lý thuyết “vị trí
trung tâm của W. Christaller đã được nhiều quốc gia ứng dụng trong công tác quy
hoạch, đặc biệt trong đó là các nước Đông Âu và Liên Xô (cũ). Ngoài ra hai khái
niệm “ngưỡng” và “phạm vi” mà ông đã đề cập đối với một trung tâm mua sắm hiện
nay vẫn còn nguyên giá trị, nhiều đô thị ứng dụng trong việc tổ chức trung tâm
dịch vụ công cộng. Bên cạnh đó, ý tưởng đề xuất tách bạch 3 nguyên tắc quan hệ
là thương mại, giao thông và hành chính của một trung tâm mua sắm cũng đã được
không ít quốc gia và đô thị vận dụng.
Bản “Hiến chương Athens”
ra đời vào niên đại 30 của thế kỷ XX chính là cột mốc quan trọng trong tiến
trình phát triển lý luận quy hoạch đô thị của thế giới. Năm 1933, Hiệp hội kiến
trúc hiện đại quốc tế đã họp và chế định đại cương về quy hoạch đô thị mang
tính quốc tế[24].
Hội nghị đã tổng kết những thành quả phát triển mới về lý luận và thực tiễn
công tác quy hoạch đô thị ở các nước trên thế giới, nội dung chủ yếu bao gồm:
(1) Xem thành phố là tổ chức không gian thực hiện 4 công năng cơ bản là nơi cư
trú (sinh sống), nơi làm việc, nơi nghỉ ngơi/giải trí và giao thông/lưu thông.
Do đó, trong công tác quy hoạch cần phải đảm bảo và phát huy tối đa 4 công năng
đó của đô thị; (2) khu vực nhà ở trong thành phố nên tọa lạc (quy hoạch) nơi tốt
nhất và cần có một lượng tiếp xúc mặt trời tối thiểu trong tất cả các ngôi nhà;
(3) những nơi có mật độ dân số cao có thể xây dựng những khu nhà chung cư cao tầng
và khoảng cách giữa chúng phải tương đối xa, đồng thời cần phải có quy hoạch quỹ
đất công để thiết kế các khu vui chơi giải trí hay các bãi đỗ xe; (4) các khu hạ
tầng chuyên biệt như nhà ở, khu thương mại, khu vui chơi giải trí không nhất
thiết phải tập trung ở khu vực trung tâm thành phố; (5) quy hoạch thành phố phải
chú ý đến không gian 3 chiều là dài, rộng và cao và tránh kiểu không gian 2 chiều
truyền thống là rộng và dài; (6) nhu cầu của con người chính là nền tảng, cơ sở
cho các hệ giá trị và công năng của thành phố trong quá trình quy hoạch và xây
dựng đô thị; (7) cần phải xem quy hoạch đô thị là luật pháp và phải dựa vào
công cụ pháp luật để bảo đảm quá trình thực thi các đồ án quy hoạch.
Từ sau niên đại
30 trở đi, nhiều đô thị trên thế giới đã quy hoạch và tiến hành triển khai các
phố thương mại, phố đi bộ và đã trở thành nơi thu hút nhiều khách du lịch.
Ngoài ra, ý niệm về công viên cây xanh cũng đã bắt đầu trở nên “phổ cập” trong
tư duy của nhà quy hoạch và quản lý đô thị. Không ít quốc gia hay thành phố, mặc
dù diện tích tổng thể không lớn nhưng cũng đã thiết kế các mảng xanh, khu công
viên công cộng có diện tích khá lớn. Khi giải quyết bài toán giao thông đô thị,
ý tưởng xây dựng các nhà cao tầng xa trung tâm hoặc phát triển giao thông lập
thể, giao thông ngầm,... cũng là một sự lựa chọn của nhà quy hoạch.
Năm 1942, trong
cuốn sách của mình có tiêu đề “Thành phố: sinh trưởng, suy thoái và tương lai của
nó”, kiến trúc sư Eero Saarinen[25]
đã đề cập đến “lý luận về phân tán hữu cơ”. Lý luận phân tán hữu cơ khác với lý
thuyết “thành phố vườn” cũng không giống với “lý thuyết phát triển trung tâm”
trước đó. E. Saarinen cho rằng, đối với khu vực trung tâm thành phố quá đông
đúc thì cần chiếu theo nguyên tắc “trật tự hữu cơ” để tăng sự phân tán và cách
tân, cần đưa các khu công nghiệp ra vùng ven để có sự phát triển cân đối, hài
hòa, hữu cơ giữa khu trung tâm với các vùng ngoại ô. Theo chủ trương của E. Saarinen,
khu vực trung tâm thành phố chủ yếu dành cho các cơ quan hành chính nhà nước và
các đơn vị sự nghiệp công để giải quyết các vấn đề và yêu cầu của người dân,
các khu vực dân cư có thể phân tán ra bên ngoài để giảm thiểu tình trạng ùn tắc
giao thông. Thành phố New York của Mỹ là một đô thị lớn trên thế giới lựa chọn
lý luận này đến kiến tạo đô thị, từ mới đầu họ đã tiến hành đưa các khu dân cư
và khu công nghiệp phân tán ra các vùng lân cận, từ đó chuyển đổi dần mô thức
đô thị hóa kiểu đơn trung tâm, hướng phát triển đô thị theo xu thế “ngoại ô
hóa”. Mô thức “ngoại ô hóa” đã được nhiều quốc gia như Mỹ, Anh, Nhật, Pháp,...
lựa chọn và dần hình thành các dải đô thị lớn và các khu vực đô thị đa trung
tâm. Ở nước ta, hướng phát triển của thành phố Hồ Chí Minh cũng theo hướng đa cực,
đa trung tâm là mô hình phù hợp với tốc độ gia tăng dân số và đô thị hóa hiện
nay[26].
2.4.
Lý luận quy hoạch đô thị đương đại
Sau khi kết thúc chiến
tranh thế giới lần thứ hai thì việc phục hồi, ứng dụng các kết quả của khoa học
kỹ thuật vào kiến thiết và phát triển kinh tế-xã hội trên toàn thế giới có bước
tiến mạnh mẽ. Nhiều quốc gia tiến hành điều chỉnh cơ cấu ngành nghề, đưa khoa học
kỹ thuật vào để phát triển các ngành công nghiệp và dịch vụ. Từ giữa thế kỷ XX,
chịu ảnh hưởng của lý thuyết quy hoạch đô thị theo trường phái cấu trúc-chức
năng (chủ nghĩa công năng), các đô thị tiến hành quy hoạch theo kiểu phân tán để
kéo dãn dân số và tránh hiện tượng tập trung dân số quá mức ở khu trung tâm. Nhiều
đô thị mới ra đời cũng được quy hoạch và tiến hành kiến tạo theo học thuyết quy
hoạch chủ nghĩa công năng. Nhấn mạnh đến việc kết hợp phát triển kinh tế-xã hội
và giải quyết các vấn đề liên quan của đô thị; chú trọng đến cơ cấu không gian
đô thị (phù hợp với cơ cấu kinh tế-xã hội đô thị); chú ý đến vấn đề vận dụng tiến
bộ của khoa học kỹ thuật vào công tác quy hoạch và quản lý đô thị; công tiến
trình quy hoạch, luôn chú trọng và vận dụng lý thuyết hệ thống, lý thuyết kiểm
soát, lý thuyết thông tin vào các bước và suốt quá trình để hoạt động quy hoạch
đảm bảo tính khoa học, tính thực tiễn, tính thao tác, tính dự báo, tính chiến
lược.
Năm 1955,
François Perroux[27]
nhà kinh tế học người Pháp đã đưa ra Lý thuyết “Cực tăng trưởng”[28],
chỉ ra vai trò to lớn của đô thị về sức mạnh kinh tế (như một cực tăng trưởng)
và theo đó, vai trò của một đô thị lớn đối với các đô thị nhỏ hơn về sức ảnh hưởng
và khả năng “dẫn dắt” về phát triển kinh tế-xã hội. F. Perroux cho rằng, việc
quy hoạch, bố trí hệ thống các đô thị (kể cả những thị trấn/thị xã) sẽ góp phần
định hướng phát triển kinh tế cho toàn khu vực và, sự phát triển kinh-xã hội của
khu vực chịu tác động mạnh mẽ của đô thị lớn như một “cực tăng trưởng”. Do đó,
gọi là “cực tăng trưởng” hàm chỉ sức mạnh to lớn, vai trò phát triển kinh tế của
các độ thị lớn, nó có thể mở rộng bán kính giao dịch, lưu thông cũng như mật độ
mạng lưới thị trường; nó có thể là thỏi nam châm thu hút nguồn lao động và nó
là chất xúc tác thúc đẩy phát triển kinh tế vùng. Và đương nhiên, các đô thị lớn
là nơi sáng tạo ra nhiều cái mới, tạo nên nhiều của cải cho xã hội, nâng cao mức
thu nhập và cải thiện đời sống cho người dân. Chính lẽ đó, theo quan điểm của
F. Perroux, các vùng còn lạc hậu nên chú ý công tác quy hoạch và đặc biệt nên
hình thành và phát triển các đô thị lớn, hình thành “cực tăng trưởng” cho toàn
vùng.
Đến những năm 60
của thế kỷ XX, các nhà quy hoạch và xây dựng đô thị đã nhận thức ra rằng, nếu
chỉ dựa vào các công cụ, điều kiện và tiến bộ của khoa học kỹ thuật trong công
tác quy hoạch, quản lý đô thị thì chưa đủ, chí ít là không thể giải quyết một
cách căn cơ, triệt để các vấn đề nảy sinh trong lòng đô thị, do đó cần phải có
sự kết hợp giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội, giữa quy hoạch không
gian kiến trúc và không gian xã hội; giữa phát triển và bảo tồn,... mới có thể
phát triển đô thị một cách hài hòa, bền vững. Ngay như việc “ngoại ô hóa” cũng
mang lại nhiều hệ lụy trong phát triển đô thị như: tầng lớp giàu có di chuyển đến
các khu ngoại ô và lúc đó, khu vực nội thành dần trở lên mất sức sống, hạ tầng
xuống cấp, thất nghiệp gia tăng,...
Từ niên đại 60 của
thế kỷ XX trở đi, quy hoạch đô thị bắt đầu đã chú ý đến việc bảo vệ, duy tu,
tôn tạo các di sản văn hóa cũng như các di tích lịch sử của đô thị. Nó vừa là
hiện trưng của sức sống, mạnh nguồn đô thị vừa thể hiện bản sắc, sức hấp dẫn của
một đô thị; vừa là chất keo kết dính cá nhân với cộng đồng, giữa đô thị và nông
thôn. Năm 1964, Hiệp hội Bảo tàng quốc tế (ICOM)[29]
đã thông qua “Hiến chương Venice” về “Hiến
chương quốc tế về bảo tồn và trùng tu di tích và di chỉ” đã tổng kết kinh nghiệm
thực tiễn và hệ thống hóa lý luận về công tác bảo tồn, phát huy giá trị của di
sản văn hóa và tự nhiên của thế giới trong hiện tại và tương lai, vật thể và
phi vật thể. Hiến chương đã đưa ra một số nguyên tắc cơ bản trong công tác bảo
tồn, trùng tu: (1) Mục đích của bảo tồn- trùng tu trước hết và tối cao
là duy trì, đảm bảo sự tồn tại lâu dài của di tích, do đó trong trùng tu cần bảo
tồn tối đa các thành phần nguyên gốc và tính chân thực của di tích; (2) Bảo tồn-trùng tu cần hạn chế
càng nhiều càng tốt sự can thiệp vào di tích, mọi sự can thiệp khi cần thiết
không làm giảm, thay đổi những đặc điểm cơ bản và những giá trị vốn có của di
tích. Ưu tiên bảo quản, gia cố sau đó mới đến tu bổ phục hồi và tôn tạo; (3) Các
thành phần thay thế, bổ sung phải được phân biệt với các thành phần nguyên gốc
tránh sự nhầm lẫn của các thế hệ sau; (4) Mọi quyết định về phục hồi cần phải
có những căn cứ xác thực, tuyệt đối không được thực hiện trên các giả thiết;
(5) Bảo tồn-trùng tu di tích là một khoa học liên quan đến các vấn đề lịch sử,
kiến trúc, nghệ thuật không tương đồng với xây dựng hoặc sửa chữa nhà cửa. Công
tác trùng tu phải dựa trên những nghiên cứu, khảo sát, phân tích, đánh giá toàn
diện. lập hồ sơ đầy đủ trước khi can thiệp vào di tích; (6) Bảo tồn-trùng tu ưu
tiên sử dụng các vật liệu, chất liệu truyền thống, các quy trình kỹ thuật thi
công truyền thống. Việc sử dụng các vật liệu, kỹ thuật mới khi cần thiết phải
có các giải pháp không làm ảnh hưởng đến các đặc điểm, giá trị vốn có của di
tích[30].
Năm 1978, Hiệp hội
kiến trúc hiện đại quốc tế tổ chức đại hội tại thủ đô Peru là Lima đã tiến hành
thông qua một văn bản có tên “Hiến chương Machu Picchu”[31].
Thông qua việc đánh giá một cách khách quan “Hiến chương Athens” để trả lời và
tìm lời giải cho các vấn đề mới mà các đô thị trên thế giới đối diện, bản Hiến
chương Machu Picchu đã khuyến nghị: (1) Các phân khu chức năng đô thị là tương
đối, vấn đề là cần phát huy tối đa các phân khu chức năng này và đảm bảo mối
liên hệ chặt chẽ giữa chúng, cần chú trọng đến tính chỉnh thể của đô thị; (2) Mỗi
một công trình kiến trúc của thành phố cần phải “đối thoại” với các công trình
kiến trúc khác, từ đó hoàn thiện hình ảnh tự thân nó; (3) Trong quy hoạch giao
thông đô thị và các chính sách tương ứng cần phải đảm bảo nguyên tắc phương tiện
giao thông cá nhân “phục tùng” giao thông công cộng; (4) Trong quá trình phát
triển đô thị cần xử lý tốt mối quan hệ giữa xây dựng hạ tầng, môi trường tự
nhiên và môi trường nhân văn; bảo vệ, bảo tồn các di sản văn hóa, di tích lịch
sử; bảo vệ các giá trị nhân văn và cảnh quan môi trường.
Năm 1981, tại Warsaw
- thủ đô Ba Lan, Đại hội lần thứ 14 của Hiệp hội kiến trúc hiện đại quốc tế đã
tiến hành thảo luận chủ đề “Đô thị và môi trường của nhân loại” và tiến hành
thông qua “Tuyên ngôn Warsaw”. Tuyên ngôn Warsaw đã nhấn mạnh lại các quan điểm
chủ yếu của “Hiến chương Machu Picchu” đồng thời đưa ra lời cảnh báo về vấn đề
môi trường. Tuyên ngôn chỉ rõ, dân số ngày càng gia tăng, nhu cầu về khai thác,
sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên càng lớn và mâu thuẫn, xung đột ngày càng
rõ nét; các nguồn năng lượng, lương thực, hệ thống sinh thái của đô thị ngày
càng mất cân bằng và có khả năng phát sinh khủng hoảng; ô nhiễm môi trường đã
trở thành vấn nạn. Do đó, công tác quy hoạch đô thị cần hết sức chú trọng đến
luận đề môi trường; cần đưa vấn đề bảo vệ và cải thiện môi trường thành nhiệm vụ
và mục tiêu chủ yếu trong thiết kế, quy hoạch, quản lý đô thị.
3.
Nội dung về quy hoạch đô thị
3.1.
Nhiệm vụ cơ bản trong quy hoạch đô thị
Quy hoạch đô thị
là một chuỗi liên hoàn các hoạt động và nhiệm vụ tương ứng gắn với từng giai đoạn
và do các chủ thể khác nhau đảm nhiệm. Trong đó, gồm một số nhiệm vụ chủ yếu:
nghiên cứu tổng hợp để xác định tính chất đô thị, quy mô và không gian phát triển
của đô thị; định hướng, sắp xếp, quy hoạch đất đai cho các hạng mục và phân khu
chức năng; phân bố hợp lý hệ thống cơ sở hạ tầng đô thị, xử lý tốt mối quan hệ
giữa nhiệm vụ trước mắt và lâu dài, giữa ngắn hạn và dài hạn; chỉ đạo để đô thị
phát triển hợp lý, hài hòa, bền vững.
Thời hạn quy hoạch
tổng thể của một đô thị thông thường là 20 năm, đồng thời cần phải có tầm nhìn
quy hoạch dài hạn hơn, xa hơn. Cần phải lưu ý rằng, các quy hoạch chi tiết phải
là bộ phận tổ thành của quy hoạch tổng thể; xây dựng ngắn hạn (tầm 5 năm) phải
là mắc xích của chiến lược đô thị, tránh tình trạng “cái bộ phận” lại không nằm
trong “cái tổng thể”, xây dựng ngắn hạn không “ăn khớp” với tư duy chiến lược;
thậm chí vì “cái tiểu tiết” mà phải sửa “cái chỉnh thể”, vì “cái trước mắt” và
“quên” đi “cái lâu dài”, vì mục tiêu kinh tế mà “bỏ qua” mục tiêu môi trường, yếu
tố xã hội,... Thông thường, quy hoạch tổng thể đô thị bao hàm một số nội dung
chủ yếu sau:
- Phân tích các
điều kiện phát triển cũng như các nhân tố chế ước để đề xuất chiến lược phát
triển của đô thị. Xác định các nguồn (tài nguyên) cần khai thác (bao gồm đất,
nước,...), các ngành nghề cần thúc đẩy phát triển, môi trường cần được bảo vệ,
các di sản văn hóa và lịch sử cần tôn tạo, phục dựng. Dự báo trình độ phát triển để điều chỉnh kết cấu
và quy mô của đô thị; phân bố các phân khu chức năng và bố cục không gian tương
ứng; xác định trọng điểm, mũi nhọn đột phá; bố cục và cơ cấu mạng lưới giao
thông, thông tin, năng lượng, cấp nước, thoát nước,...; đưa ra các giải pháp thực
hiện và các công cụ thực hiện các nhiệm vụ liên quan;
- Xác định phương
hướng, tính chất, quy mô phát triển của đô thị, hoạch định, khoanh vùng phạm vi
quy hoạch;
- Đề xuất quy mô
phát triển quỹ đất và nhân khẩu thành phố tương ứng, xác định bố cục không
gian, các phân khu chức năng; vị trí trung tâm và khả năng lan tỏa của thành phố
trong tương lai;
- Xác định quy mô
về hạ tầng giao thông chủ yếu gồm sân bay, cảng (biển, sông), đường sắt, đường
bộ và các trạm, bến xe tương ứng; theo đó cần định vị các trục đường chính của
thành phố, các nút giao cắt lớn; hệ thống hạ tầng phục vụ giao thông tĩnh,…
- Bố trí tổng thể
và xác định mục tiêu phát triển về hạ tầng phục vụ đời sống thị dân như cấp nước,
thoát nước, phòng chống lũ lụt; cấp điện, thông tin, khí đốt, cấp nhiệt (về mùa
đông đối với các đô thị vùng lạnh); xử lý rác thải và vệ sinh môi trường,…;
- Xác định và bố
trí hệ thống hồ, sông để vừa tạo cảnh quan, vừa góp phần điều hòa lượng nước
trong tình huống cụ thể;
- Xác định mục
tiêu phát triển và kiến tạo hệ thống công viên cây xanh;
- Xác lập mục
tiêu bảo vệ môi trường, đề xuất các giải pháp xử lý ô nhiễm;
- Xác định các rủi
ro đô thị có thể xảy ra để xác định nguồn nhân lực, vật lực, trí lực ứng phó;
- Xác định kế hoạch
tiến hành bảo vệ, tôn tạo các danh thắng lịch sử, văn hóa, các di sản, các con
đường/ngõ hẻm có giá trị về lịch sử;
- Xác định các biện
pháp, nguyên tắc tiến hành bảo vệ, cải tạo các khu đô thị cũ;
- Đảm bảo hài hòa
giữa khu vực thành phố và khu vực nông thôn lân cận; giữa nội thị và ngoại thị;
giữa công nghiệp, dịch vụ với sản xuất nông nghiệp; xác lập các “vùng đệm” cần
thiết cho đô thị, vừa tạo kết nối, hài hòa vừa đảm bảo điều hòa chất lượng
không khí đô thị;
3.2.
Nội dung chủ yếu về quy hoạch đô thị
Giai đoạn quy hoạch
tổng thể đã xác định cụ thể các nhiệm vụ quy hoạch về giao thông, cấp thoát nước,
điện/năng lượng, thông tin/truyền thông, cung nhiệt/khí, các khu công viên cây
xanh, các danh thắng, các di tích, kế hoạch bảo vệ môi trường, hệ thống phòng
chống và giảm nhẹ thiên tai, không gian ngầm,… Ngoài ra, cần chú ý đến các vấn
đề rủi ro khác như động đất, sóng thần (đô thị biển) và một số vấn đề khác có
thể nảy sinh.
Thứ nhất, quy hoạch đường sá. Trước tiên là hệ thống giao
thông kết nối như đường sắt, các bến cảng; hệ thống kết nối giao thông đô thị với
đường cao tốc,… Kế đến, cần chú trọng đến vấn đề vận chuyển hàng hóa và các kho
chứa tương ứng. Xác định (và phân định rõ) giao thông công cộng với giao thông
vận tải khác, phân bố các trạm giao thông công cộng; nghiên cứu sắp xếp một
cách khoa học các tuyến đường sắt đô thị, xe đạp đô thị để giải quyết vấn đề kẹt
xe. Cuối cùng chú ý mạng lưới đường sá, cầu cống; giao thông tập thể, nơi đậu đỗ
xe và thường xuyên thống kê, đánh giá mức độ gia tăng các phương tiện giao
thông để có biện pháp xử lý và điều chỉnh quy hoạch đường sá cho phù hợp.
Thứ hai, quy hoạch các công trình cấp nước. Cần phải định lượng được nhu cầu sử dụng
nước để tính toán tổng lượng nước cung cấp; phân tích sự cân bằng giữa nhu cầu
và khả năng nguồn nước tự nhiên để lựa chọn nguồn nước, năng lực cung cấp,
phương thức lấy nước và năng lực cung ứng; bố trí hệ thống ống dẫn nước, xác định
số lượng và vị trí đặt trạm tăng áp để nước cung cấp đến hộ dân không quá yếu;
điều quan trọng nữa là cần phải có kế hoạch, biện pháp bảo vệ nguồn nước cung cấp
cho đô thị (về số lượng, chất lượng và các khả năng phát sinh ngoài ý muốn của
chính quyền đô thị). Nếu không có quy hoạch tốt, sẽ dẫn đến mất an ninh nguồn
nước, đời sống sinh hoạt của thị dân bị xáo trộn, thậm chí nảy sinh các xung đột[32].
Thứ ba, quy hoạch công trình thoát nước. Thông qua việc tính toán một cách khoa học
tổng lượng nước thải (nước thải sinh hoạt và nước mưa) để chế định tiêu chuẩn hệ
thống hạ tầng thoát nước. Bố trí mạng lưới hạ tầng thoát nước, các trạm chứa để
xử lý; tính toán áp dụng hệ thống máy móc có thể vận hành xử lý và khả năng tái
sử dụng nguồn nước thải đã qua xử lý.
Thứ tư, quy hoạch công trình cấp điện. Từ số liệu thực tế về dân cư và nhu cầu
dùng điện của thành phố, tính toán tổng lượng điện sử dụng để quy hoạch, bố trí
các trạm biến áp và lượng điện tương ứng. Cũng cần tính toán đến đa dạng hóa
nguồn cung điện, loại điện (thủy điện, phong điện, nhiệt điện,…) và đa dạng hóa
chủ thể cung cấp để có sức cạnh tranh. Có kế hoạch bảo vệ hành lang lưới điện
và các trạm biến áp để đảm bảo an ninh nguồn điện đô thị.
Thứ năm, quy hoạch công trình thông tin-truyền thông. Xác định quy mô phát triển và
tiêu chuẩn các thiết bị truyền thông, các nhà cung cấp hạ tầng thông tin, đảm bảo
thông suốt và tính hiện đại; quy hoạch bố cục và cơ cấu hạ tầng truyền thông,
phục vụ nhu cầu ngày càng gia tăng của đô thị, nhất là tiến hành xây dựng hạ tầng
công nghệ thông tin để xây dựng đô thị thông minh, đô thị số.
Thứ sáu, quy hoạch hệ thống cung cấp khí đốt, nhiệt. Đối với các đô thị tọa lạc ở
vùng lạnh và cũng để đảm bảo tính hệ thống, an ninh cũng như tính thẩm mỹ, nhiều
đô thị quy hoạch hệ thống cung cấp khí đốt, cung cấp nhiệt (để sưởi ấm và phục
vụ nhu cầu hằng ngày của thị dân) trên phạm vi toàn thành phố. Đây là hệ thống
khá phức tạp và cần phải có tầm nhìn trong quy hoạch, đặc biệt là tránh xung đột
với hệ thống khác của đô thị.
Thứ bảy, quy hoạch chiến lược môi trường. Chế định hệ thống chất lượng môi trường,
xác định tiêu chuẩn về khí thải, chất thải của các chủ thể/vật thể có thể gây ô
nhiễm; từ đó đưa ra hệ thống chế tài, biện pháp xử lý các chủ thể gây ô nhiễm
và chiến lược bảo vệ môi trường đô thị. Trong đó, cần quy định tiêu chuẩn cụ thể
cho âm thanh, ánh sáng, nhiệt lượng; nguồn nước thải, rác thải, khí thải; môi
trường tự nhiên và môi trường nhân văn đô thị.
Thứ tám, quy hoạch công trình phòng chống và giảm nhẹ thiên tai đô thị. Công trình
phòng chống và giảm nhẹ thiên tai gồm phòng cháy chữa cháy, dự báo động đất,
phòng chống bão lụt,… Căn cứ vào tính chất, quy mô, tần số phát sinh hiện tượng
thiên tai để có kế hoạch, chiến lược phòng chống và giảm nhẹ tác động của các
hiện tượng thiên nhiên.
Thứ chín, quy hoạch hệ thống công viên cây xanh. Hệ thống
công viên cây xanh là lá phổi của đô thị, vừa có chức năng điều hòa không khí,
vừa tạo cảnh quan đô thị nhưng đặc biệt hơn, tạo nên tính nhân văn của một
thành phố; là nơi để thị dân và du khách thư giãn, giải trí và tổ chức các hoạt
động dã ngoại, gắn kết cộng đồng và hình thành ý thức yêu thiên nhiên. Hiện tại,
không ít đô thị của Việt Nam (kể cả đô thị miền núi) thiếu những công viên, mảng
xanh công cộng khiến cho đô thị trở thành một “khối bê tông khổng lồ” thiếu
tính nhân văn[33].
Thứ mười, quy hoạch không gian ngầm và khai thác không gian
ngầm. Từ quy hoạch tổng thể đô thị cần xác định vị trí chiến lược và vai trò của
không gian ngầm đô thị, chế định chính sách khai thác, quy hoạch, sử dụng, bố
trí, xây dựng không gian ngầm phục vụ cho yêu cầu phát triển đô thị, nhất là an
ninh, giao thông. Cần phải có quy hoạch không gian ngầm tổng thể và các phân
khu chức năng không gian ngầm, nhất là mục đích giao thông công cộng (giao
thông động và giao thông tĩnh). Nhiều đô thị trong một thời gian dài không có
quy hoạch không gian ngầm, cho nên, khi cần sử dụng không gian ngầm thì vướng rất
nhiều vấn đề như: tính pháp lý, không gian ngầm bị “xâm lấn” bằng cọc nhồi bê
tông của các công trình lớn. Lúc đó muốn xây dựng hạ tầng ngầm không chỉ vướng
về pháp lý còn phải tiến hành “xử lý” những hệ lụy mà trước đó không lường trước
được. Chẳng hạn, muốn xây dựng tàu điện ngầm (Metro) thì không thể không sử dụng
không gian ngầm, thế nhưng đến khi có nhu cầu kiến tạo hệ thống Metro thì vấn đề
mới lại nảy sinh: chưa có quy hoạch không gian ngầm.
Thứ mười một, quy hoạch chiến lược bảo vệ các danh thắng, các
di tích lịch sử. Từ dòng chảy lịch sử và các lớp trầm tích văn hóa của đô thị cần
xác định chiến lược bảo vệ, khai thác các danh thắng, di tích lịch sử một cách
khoa học. Quy hoạch chiến lược bảo vệ danh thắng, di tích lịch sử đô thị liên
quan đến nhiều yếu tố như dân cư, văn hóa lối sống, di tu bảo dưỡng, hình thái
không gian và các biện pháp cụ thể gắn với các chủ thể. Xác định các hạng mục
công trình các danh thắng cần được bảo vệ; có kế hoạch trùng tu các di sản văn
hóa đô thị; đưa ra các chính sách quản lý và xử lý các hành vi vi phạm.
4.
Thực hiện quy hoạch và quản lý quy hoạch đô thị
4.1.
Nguyên tắc trong quy hoạch đô thị
Con người là động
lực cũng là mục tiêu của quá trình phát triển. Đối với một thành phố mà nói,
con người là “hồn cốt” và tạo nên “cái thiêng” cho đô thị. Nói cách khác, quy
hoạch phát triển đô thị phải lấy con người làm trung tâm, dĩ nhân vi bản. Bất
luận là quy hoạch tổng thể hay quy hoạch chi tiết thì đều tạo điều kiện thuận lợi
nhất cho thị dân, đảm bảo nguyên tắc căn bản là “phục vụ người dân”. Cụ thể,
trong tiến trình quy hoạch đô thị cần phải tuân thủ các nguyên tắc sau:
Thứ nhất, nguyên tắc hài hòa, hệ thống. Quy hoạch đô thị lấy
sự hài hòa, bền vững, thống nhất, phối hợp giữa các bộ phận tổ thành, các tiểu
hệ thống trong hệ thống lớn để bố cục không gian, cải thiện môi trường sống,
thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội, đảm bảo an sinh xã hội, an ninh con người làm
sứ mệnh và mục tiêu. Khi chế định các chính sách và các đồ án quy hoạch đô thị
cần đảm bảo tính liên hệ, tính thống nhất và hài hòa giữa môi trường tự nhiên,
điều kiện nguồn lực, địa lý nhân văn, trình độ sản xuất, văn hóa xã hội,… Trong
quy hoạch tổng thể, cần phải căn cứ vào tình hình thực tiễn về điều kiện hiện hữu
của đô thị thông qua các số liệu thực chứng mới có thể xác định được quy mô
phát triển của đô thị một cách phù hợp, hình thành các tiêu chuẩn, tiêu chí
đánh giá cụ thể cho từng lĩnh vực, từng giai đoạn và tổng thể.
Thứ hai, nguyên tắc hiệu quả. Nguyên tắc hiệu quả hàm chỉ hiệu quả tổng hợp của
toàn hệ thống đô thị. Muốn vậy cần phải đảm bảo nguyên tắc khoa học và lấy sự
hài lòng của nhân dân làm thước đo căn bản. Đương nhiên, quy hoạch không chỉ đảm
bảo về tính thẩm mỹ mà còn phải tính đến hiệu quả kinh tế-xã hội. Trong quy hoạch,
cần phải tính toán hợp lý giữa không gian sinh tồn và không gian phát triển để
vừa thỏa mãn hiệu quả kinh tế, vừa đảm bảo “dĩ nhân vi bản”. Nói đến hiệu quả
điều tất yếu phải tính đến quan hệ tỷ lệ giữa đầu tư và sản xuất, lợi ích. Nói
cách khác, đảm bảo nguyên tắc hiệu quả trong quy hoạch đô thị là phải đạt được
lợi ích cao nhất có thể theo mong đợi. Tránh trường hợp tiêu tốn quá nhiều nguồn
lực (nhân lực, tài lực) cho quy hoạch nhưng những gì mà đồ án quy hoạch mang lại
không lớn, thậm chí không có giá trị.
Thứ ba, nguyên tắc tiết kiệm. Các nguồn lực và tài nguyên của đô thị, trong đó có
tài nguyên đất, là vô cùng quan trọng và hữu hạn. Do đó, quy hoạch đô thị phải đảm
bảo nguyên tắc tiết kiệm, nhất là tiết kiệm quỹ đất. Có thể nói, tiết kiệm tài
nguyên đất là nhân tố quan trọng của phát triển đô thị bền vững. Quy hoạch đô
thị luôn quán triệt tinh thần tiết kiệm tài nguyên đất bằng cách bố trí, bố cục
hợp lý các phân khu chức năng; đảm bảo nguyên tắc xây dựng phải theo quy hoạch,
tránh tình trạng lấn chiếm, chiếm dụng, xây dựng sai mục đích. Một mét vuông đất
đô thị nếu quy hoạch và sử dụng đúng cách, đúng mục tiêu, khoa học có khi tạo
ra giá trị còn hơn cả trăm, cả ngàn mét vuông, đó có lẽ là phương châm và
nguyên tắc tiết kiệm trong công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch đô thị.
Thứ tư, nguyên tắc nhân văn. Đô thị là sản phẩm độc đáo do nhân loại tạo lập, vừa
là môi trường sống (hoạt động sống, phương thức sống) vừa là môi trường sáng tạo
(khoa học, kỹ thuật), vừa là môi trường nhân văn (lịch sử, văn hóa, giá trị,…).
Chính lẽ đó, quy hoạch đô thị cần phải đảm bảo nguyên tắc nhân văn, tức là phải
có kế hoạch bảo vệ các di sản văn hóa, văn vật; bảo tồn và phát huy các giá trị
bản địa, phong tục tập quá cũng như bản sắc dân tộc. Nguyên tắc nhân văn có vị
trí, vai trò rất lớn không chỉ đối với hình ảnh và sức hấp dẫn của đô thị mà
còn thúc đẩy phát triển các ngành nghề (như du lịch, dịch vụ), các nhà đầu tư
và cuối cùng là động lực phát triển kinh tế-xã hội của chính đô thị. Điều lưu ý
đối với các nhà quy hoạch và chính quyền đô thị là, khi tiến hành cải tạo các
khu đô thị cũ và phát triển khu đô thị mới, cần phải có tư duy và tầm nhìn xa
hơn về bảo tồn các giá trị, bản sắc địa phương; gìn giữ các giá trị văn hóa, lịch
sử; tôn tạo các danh thắng và bảo lưu các công trình kiến trúc (thậm chí như
nhà ở) có tính chất lịch sử, mang giá trị truyền thống, tránh “san bằng” các
giá trị văn hóa, lịch sử khiến đô thị sẽ mất đi “cái linh thiêng”, “hồn cốt” vốn
có.
Thứ năm, nguyên tắc sinh thái. Các đô thị hiện đại thông thường có mật độ xây dựng
lớn, dân số đông và tất yếu sẽ phát sinh không ít các vấn đề xã hội như ùn tắc
giao thông, ô nhiễm môi trường, thiếu hụt nguồn cung năng lượng,… Do đó, công
tác quy hoạch cần chú ý đến môi trường sinh thái, giảm thiểu vấn nạn ô nhiễm
môi trường. Môi trường bị ô nhiễm không chỉ thiệt hại về mặt kinh tế, tổn hại về
hình tượng đô thị mà còn tác động trực tiếp đến sức khỏe con người. Nhiệm vụ
trước mắt và lâu dài mà người làm công tác quy hoạch đô thị cần thực hiện là xử
lý ô nhiễm, ngăn ngừa các nguồn gây ô nhiễm, bảo vệ môi trường sinh thái, hướng
đến mục tiêu phát triển đô thị bền vững.
4.2.
Định hướng chiến lược trong quy hoạch và quản lý quy hoạch đô thị
Toàn cầu hóa kinh
tế là động lực, cơ hội cho các quốc gia, đô thị phát triển nhưng đó cũng là
thách thức không nhỏ đối với các quốc gia đang phát triển và các đô thị vừa và
nhỏ, nhất là trong định hướng chiến lược phát triển.
Tùy theo cách tiếp
cận khác nhau mà định hướng chiến lược trong phát triển đô thị nói chung, trong
quy hoạch đô thị nói riêng, có những khác biệt nhất định. Có chiến lược phát
triển đô thị cấp quốc gia (đô thị trực thuộc trung ương), đô thị cấp vùng hay
đô thị trực thuộc tỉnh; chiến lược phát triển đô thị lớn, đô thị vừa và đô thị
nhỏ; chiến lược phát triển đô thị theo các cấp độ đã được quy định (ở Việt Nam
có 6 loại đô thị: đặc biệt, loại 1, loại 2, loại 3, loại 4 và loại 5)[34]; chiến lược phát triển đô thị vĩ mô,
trung mô hay vi mô; chiến lược phát triển đô thị về kinh tế, văn hóa, xã hội,… Ở
đây, chúng tôi xin giới thiệu chiến lược phát triển đô thị theo lát cắt lĩnh vực,
cụ thể là:
Chiến lược phát triển kinh tế đô thị. Phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm của
một quốc gia, dân tộc, đô thị không là ngoại lệ. Không thể có một thành phố “có
sức sống” mà nền tảng kinh tế kiệt quệ, đình trệ, thiếu bền vững. Điều đó cho
thấy, trong quy hoạch đô thị thì định hướng chiến lược kinh tế là cực kỳ quan
trọng. Đương nhiên, nội dung quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế đô
thị là chiến lược phát triển các ngành nghề. Trong đó tổ chức các hoạt động sản
xuất, thu hút đầu tư, cơ cấu ngành nghề, quỹ đất cần quy hoạch tương ứng,… là
các nhiệm vụ cần được xác định và đưa vào quy hoạch.
Chiến lược phát triển hạ tầng đô thị. Toàn bộ hệ thống hạ tầng làm nên “phần cứng”
của một thành phố. Trong đó cơ sở hạ tầng đô thị đóng vai trò là “vật chuyên chở”
toàn bộ hoạt động của hệ thống đô thị. Một đô thị sẽ “tê liệt” hay “chết máy”
khi “sức chịu tải” của nó không “gánh” nỗi trọng lượng khổng lồ từ các hoạt động
của toàn đô thị. Đo đó, phát triển hạ tầng đô thị (hạ tầng giao thông, hạ tầng
điện, hạ tầng cấp nước, hạ tầng viễn thông,...) cần phải được định hướng và có
tầm nhìn chiến lược. Nếu công tác quy hoạch hạ tầng “đi sau” tốc độ phát triển
của đô thị sẽ kéo theo nhiều hệ lụy về kinh tế, xã hội, môi trường cũng như
hình ảnh, sức cạnh tranh đô thị.
Chiến lược phát triển văn hóa - xã hội đô thị. Có thể khẳng định, văn hóa-xã hội và
kinh tế-xã hội là hai “trụ cột” của “mái nhà đô thị”. Thế nhưng, thực tế cho thấy,
không ít các nhà quản lý và quy hoạch đô thị chỉ chú trọng đến chiến lược phát
triển kinh tế mà, trên một bình diện nào đó, chưa chú ý đúng mức đến chiến lược
phát triển văn hóa-xã hội đô thị. Như đã đề cập ở trên, con người mới thực sự
là mục tiêu, động lực cho sự phát triển. Từ ý nghĩa đó mà nói, sau khi chế định
chiến lược phát triển kinh tế đô thị thì cần phải hình thành chiến lược phát
triển văn hóa-xã hội đô thị tương ứng, hướng đến sự hài lòng của người dân và
khía cạnh đời sống tinh thần của thị dân. Để thực hiện mục tiêu chiến lược văn
hóa-xã hội đô thị cần phải lồng ghép vào các chính sách khác nhau như giáo dục,
y tế, thể thao, nghệ thuật; khoa học-kỹ thuật; hoạt động bảo tồn các di sản đô
thị,...
Nói chung, để định
hướng chiến lược phát triển đô thị cần phải đảm bảo tư duy khoa học, có căn cứ
thực chứng, có tư duy tầm nhìn, có trọng tâm trọng điểm, có phân tích đánh giá
và phải hình thành tiêu chí định lượng cho từng lĩnh vực, từng giai đoạn để có
cơ sở lượng giá. Nếu không, kế hoạch, chiến lược, đồ án chỉ là các “vật phẩm”
trên giấy.
TÀI LIỆU
THAM KHẢO
1. Phạm Ngọc Côn, Kinh
tế học đô thị, Nxb. Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội,1999.
2. Võ Kim Cương, Quản lý đô thị - Thời kỳ chuyển đổi, Nxb.
Xây dựng. Hà nội, 2004.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam, Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII
của Đảng, Văn phòng Trung ương Đảng
xuất bản, Hà Nội, 2020.
4. Phạm Đi, Biến đổi trong đời sống xã hội Trung Quốc (sách dịch), Nxb. Lý luận chính
trị, Hà Nội, 2019
5. Phạm Đi, Quản lý đô
thị - một góc nhìn, Nxb. Đại học quốc gia TP.HCM, 2016.
6. Phạm Đi, Vấn đề xã
hội – lý thuyết và vận dụng, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội,
2018.
7. Phạm Đi, Xã hội học
với lãnh đạo, quản lý, Nxb. Thông tin truyền thông, Hà
Nội, 2020.
8. Phạm Kim Giao, Quy
hoạch vùng, Nxb. Xây dựng. Hà Nội 2000.
9. Đỗ Hậu, Xã hội học
đô thị, Nxb. Xây dựng. Hà Nội, 2001.
10.
Vũ
Văn Hiển, Một số luận cứ phản bác các
quan điểm sai trái, thù địch, chống phá Đại hội XIII của Đảng, Nxb. Chính
trị quốc gia - Sự thật. Hà Nội, 2020.
11.
Lê
Như Hoa, Quản lý văn hóa đô thị trong điều kiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước. Nxb.
Văn hóa-Thông tin. Hà Nội, 2000.
12.
Nguyễn
Minh Hòa, Đô thị học – Những vấn đề lý
thuyết và thực tiễn, Nxb. Đại học quốc gia TP.HCM, 2012.
13.
Nguyễn
Minh Hòa, Đô thị học – những vấn đề lý thuyết
và thực tiễn. Nxb. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, 2012.
14.
Nguyễn
Minh Hòa, Tiềm năng cho kỳ tích sông Sài
Gòn. Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2008.
15.
Nguyễn
Minh Hòa, Vùng đô thị châu Á và thành phố
Hồ Chí Minh, Nxb. Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2005.
16.
Trần
Hùng, Dân số học đô thị, Nxb. Xây dựng. Hà Nội 2001.
17.
Nguyễn
Đình Hương, Đô thị hóa và quản lý kinh tế
đô thị ở Hà Nội. Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000.
18.
Jane Jacobs, The Death and Life of Great
American Cities (bản dịch tiếng Trung của dịch giả Kim Giới Sơn, Nxb. Phượng
Hoàng, Trung Quốc)
19.
Nguyễn
Tố Lăng, Quản lý đô thị ở các nước phát triển. Nxb. Xây dựng, Hà Nội, 2017.
20.
Trịnh
Duy Luân, Giáo trình xã hội học đô thị,
Nxb, Đại học quốc gia Hà Nội, 2009
21.
Trịnh
Duy Luân, Tác động kinh tế-xã hội của đổi
mới trong lĩnh vực nhà ở đô thị. Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội,1998.
22.
Vũ
Hào Quang, Xã hội học quản lý, Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội, 2001.
23.
Nguyễn
Văn Thành, Xây dựng và quản trị thành phố
thông minh, bảo đảm các chỉ số an ninh, an sinh, an toàn trong cách mạng công
nghiệp 4.0. Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2020
24.
Quỳnh
Trân, Phát triển đô thị bền vững.
Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2002.
[1] Quốc
Hội Khóa XII, Kỳ họp thứ 5, Số 30/2009/QH12,
Luật Quy hoạch đô thị, ban hành
ngày 17 tháng 6 năm 2009.
[2]
Tuy nhiên, không ít đô thị ở nước ta do công tác quy hoạch thiếu tính khoa học, thiếu đồng bộ, thiếu tầm nhìn nên
còn mang tính chắp vá, thậm chí còn xung đột giữa các đồ án quy hoạch các phân
khu chức năng. Ngay như vấn đề quy hoạch không gian ngầm để phục vụ cho các mục
đích công như các bãi đỗ xe, các công trình ngầm nhưng hiện nay tại một số đô
thị lớn như thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội vẫn còn loay hoay: “Một số hạn chế trong việc thực thi quy định
về quản lý không gian ngầm đô thị có thể kể đến: Việc xây dựng cơ sở dữ liệu về
không gian xây dựng ngầm đô thị chưa được quan tâm; hiện tại chỉ có 18 tỉnh,
thành phố trên cả nước ban hành quyết định về quản lý, phân cấp quản lý cơ sở dữ
liệu và cung cấp dữ liệu về không gian xây dựng công trình ngầm đô thị. Hệ thống
cơ sở dữ liệu về công trình ngầm không đầy đủ, chưa thể hiện được tính kết nối,
mối quan hệ giữa các công trình ngầm với nhau và giữa công trình ngầm với công
trình trên mặt đất, dẫn đến khó khăn cho công tác lập quy hoạch”. Tham kiến:
https://nhandan.com.vn/doi-song-xa-hoi/thieu-tam-nhin-dai-han-377731/
[3] Tham kiến: Quy hoạch một đằng, làm một nẻo (Báo Quân đội Nhân dân: https://www.qdnd.vn/ban-doc/thu-ban-doc/quy-hoach-mot-dang-lam-mot-neo-548395 )
[4] Tham kiến: Bất cập trong quy hoạch
đô thị (Báo Nhân dân: https://nhandan.com.vn/baothoinay-dothi/bat-cap-trong-quy-hoach-do-thi-617549/ )
[5] Xem: Những ai băm nát quy hoạch Thủ
đô? Tham kiến: https://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/nhung-ai-bam-nat-quy-hoach-thu-do-540812.html ; Bị băm nát, Hà Nội và TP.HCM đang trả
giá rất đắt. Tham kiến: https://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/bi-bam-nat-ha-noi-va-tp-hcm-dang-tra-gia-rat-dat-541167.html
[6] Phạm Ngọc Côn, Kinh tế học đô thị, Nxb. Khoa học và kỹ thuật, H.1999, tr.16-17.
[7] Tên thật là Antonio di Pietro Aver
(u) lino (1400-1469)
[8] Frederick Law Olmsted (1822-1903), là một
trong những người đầu tiên đề xuất quy hoạch đô thị chính là quy hoạch cảnh
quan và thiết kế công viên. Olmsted cho rằng, sự
phát triển của thành phố là điều tất yếu và mang lại lợi ích cho xã hội, và việc
kết hợp công viên, cảnh quan thiên nhiên vào cấu trúc đô thị có thể giúp giảm
nhiều ảnh hưởng tiêu cực mà sự phát triển của đô thị gây ra. Giống như nhiều
trí thức Mỹ vào thời điểm đó như Ralph Waldo Emerson và Henry Đavi Thoreau,
Olmsted đánh giá cao vai trò của thiên nhiên. Ông hy vọng, việc ứng dụng mang
tính sáng tạo trong thực hành kiến trúc phong cảnh có thể giảm bớt áp lực ở các
thành phố đông dân và thúc đẩy tính thân thiện, trong sáng trong các mối quan hệ
xã hội. Xem: Cranz, Galen. 1982, The Politics of Park Design: A History of Urban Parks in America.
Cambridge, MA: MIT Press.
[9] Arturo Soria y Mata (1844-1920), người được
biết đến nhiều nhất với khái niệm về “thành phố tuyến tính”. Ý niệm này đã thay
thế ý tưởng truyền thống về thành phố là trung tâm và ngoại vi bằng ý tưởng xây
dựng các đoạn tuyến tính của cơ sở hạ tầng - đường bộ, đường sắt, khí đốt, nước,...dọc
theo một đường tối ưu và sau đó gắn các thành phần khác của thành phố dọc theo
chiều dài của đường này. Thành phố tuyến tính có nghĩa là “nông thôn hóa thành
phố và đô thị hóa vùng nông thôn” và được áp dụng rộng rãi như một vòng quanh
các thành phố hiện có, như một dải nối hai thành phố hoặc như một thị trấn tuyến
tính hoàn toàn mới trên một khu vực chưa có dân cư.
[10] Ebenezer Howard (1850-1928), kiến
trúc sư người Anh, là người ảnh hưởng mạnh mẽ đến các ý tưởng và lý thuyết quy
hoạch đô thị của thế kỷ XX. Đã có nhiều “thành phố vườn” được xây dựng theo mô
hình của ông trên thế giới.
[11] Đoàn Ngọc Hiệp, Từ lý luận thành phố vườn của Ebenezer Howard đến lý luận thành phố vệ
tinh của Raymond Unwinn, Tạp chí Quy hoạch Xây dựng, số 7/2005. Tham kiến: https://moc.gov.vn/vn/tin-tuc/1145/51151/tu-ly-luan-thanh-pho-vuon-cua-ebenezer-howard-den-ly-luan-thanh-pho-ve-tinh-cua-raymond-unwinn.aspx
[12] Phạm Đi, Xã hội học với lãnh đạo, quản lý. Nxb Thông tin và truyền
thông, H.2020, tr.57-60.
[13] Còn dịch là “Đô thị trong quá trình tiến
hóa” (Cities in Evolution). Những phản tư chung quanh khái niệm
quy hoạch. Tham kiến: https://dothivietnam.org/2011/05/18/phantuveqh/
[14] Patrick
Geddes (1854-1932), nhà sinh vật học, kiến trúc người Scotland,
được cho là ông tổ của các lý luận xã hội tạo nên cơ sở cho khoa quy hoạch
đô thi và nông thôn.
[15] Le Corbusier (1887-1965), là một kiến
trúc sư, nhà quy hoạch, nhà văn, nhà thiết kế nội thất nổi tiếng người Pháp gốc
Thụy Sĩ, là một trong những nhân vật có ảnh hưởng đến trào lưu kiến trúc hiện đại
của thế kỷ XX. Chân dung của ông hiện được in trên tờ 10 franc của Thụy Sĩ và
tên ông được đặt tên đường ở nhiều quốc gia.
[16] “The City of Tommorrow” và sau này
là cuốn “La Ville radieuse” (Thành phố tươi sáng, 1933).
[17] Nguyễn Đỗ Dũng, Các mô hình quy hoạch: thành phố tươi sáng, Tạp chí Xây dựng,
số 04/2010.
[18] Raymond Unwin (1863-1940)
[19] Đoàn Ngọc Hiệp, Từ lý luận thành phố vườn của Ebenezer
Howard đến lý luận thành phố vệ tinh của Raymond Unwinn, Quy hoạch Xây dựng, số 7/2005
[20] Clarence Perry (1872-1944), cha đẻ của lý thuyết đô thị “đơn vị ở”.
[21] Còn gọi là “Đơn vị ở
láng giềng” (Neighbourhood
Unit)
[22] Nguyễn Đỗ Dũng, Các
mô hình quy hoạch đô thị: “đơn vị ở”, Tạp chí Xây dựng, số 01/2010
[23] Walter Christaller (1893-1969), sau
khi tiến hành các thí nghiệm thực chứng của mình (ông chủ yếu thử nghiệm lý
thuyết ở miền nam nước Đức), W. Christaller đã nhận ra mối quan hệ kinh tế giữa
các thành phố và vùng nội địa của chúng. Sau đó, W. Christaller kết luận rằng, mọi
người tụ tập lại với nhau ở các thành phố để chia sẻ hàng hóa và ý tưởng và rằng
các cộng đồng - hoặc những nơi trung tâm- tồn tại vì lý do kinh tế thuần túy. Ngược
lại, hàng hóa có đơn hàng cao là những mặt hàng chuyên biệt như ô tô , đồ nội thất, đồ trang sức mỹ nghệ và đồ gia dụng mà mọi người ít
mua hơn. Bởi vì chúng yêu cầu một ngưỡng lớn và mọi người không mua chúng
thường xuyên, nhiều cơ sở kinh doanh bán những mặt hàng này không thể tồn tại ở
những nơi dân số ít. Vì vậy, các doanh nghiệp này thường đặt trụ sở tại
các thành phố lớn có thể phục vụ một lượng lớn dân cư ở nội địa xung quanh.
[24] Tham kiến: https://vi.wikiarabi.org/wiki/Athens_Charter
[25] Eero Saarinen (1910-1961), sinh ra tại Kirkkonummi, Phần Lan. Là con của kiến
trúc sư kỳ cựu người Phần Lan Eliel Saarinen, Eero Saarinen có những tố chất được
thừa hưởng từ người cha để trở thành một trong những nhà thiết kế nổi tiếng của
thế kỷ XX. Ông theo gia đình định cư tại Mỹ vào năm 13 tuổi tại
Bloomfield Hills, bang Michigan nơi mà cha ông giảng dạy ở học viện Nghệ thuật
Cranbrook. Tại nơi đây, ông đã học về điêu khắc và thiết kế đồ nội thất. Eero
Saarinen cũng quen với các bạn học là nhà thiết kế nổi tiếng cùng thời như
Charles và Ray Eames, ông trở thành bạn thân của nhà thiết kế Florence Knoll.
Sau khi hoàn thành khoá học tại học viện, ông tiếp tục học kiến trúc tại đại học
Yale quyết định khởi nghiệp là kiến trúc sư cùng với người cha của mình. Công
trình thiết kế của ông luôn có yếu tố tạo hình và điêu khắc theo chủ nghĩa biểu
hiện và mạch lạc, rõ ràng của chủ nghĩa Công năng châu Âu.
[26] Thành phố Hồ Chí Minh: Định hình đô thị đa trung tâm. Tham kiến: http://www.hanoimoi.com.vn/tin-tuc/Kinh-te/950433/thanh-pho-ho-chi-minh-dinh-hinh-do-thi-da-trung-tam ; https://moc.gov.vn/vn/tin-tuc/1184/66616/tp-ho-chi-minh-gap-rut-hoan-thien-do-an-quy-hoach-phat-trien-do-thi.aspx
[27] François Perroux (1903-1987), lý thuyết
“cực tăng trưởng” của ông ban đầu áp dụng trong lĩnh vực kinh tế sau đó là lĩnh
vực đô thị và quy hoạch đô thị. Các “cực tăng trưởng” hay các trung tâm tăng
trưởng thường được coi là đồng nghĩa với các thành phố hoặc các khu vực đô thị.
Điều đó là phổ biến vì trong hầu hết các trường hợp, các tiêu chuẩn được đưa ra
để xác định một trung tâm tăng trưởng đều là các đặc trưng của vùng đô thị.
[28] Growth Poles Theory (còn gọi là “hiệu
ứng lan tỏa” hay “hiệu ứng phân cực” : Lý thuyết này cho rằng, Một vùng không
có sự phát triển đồng đều ở mọi điểm trên lãnh thổ của nó theo cùng một thời
gian, mà có xu hướng phát triển mạnh ở một số điểm nào đó. Trong khi đó ở một số
nơi khác chậm phát triển hơn hoặc bị trì trệ. Các điểm phát triển mạnh và
nhanh này thường có ưu thế, lợi thế so với toàn vùng và được gọi là các cực
tăng trưởng (vị trí trung tâm).
[29] International Council Of Museums,
Conseil International Des Musees.
[30] Tham kiến: https://www.tapchikientruc.com.vn/chuyen-muc/kien-truc-the-gioi/bao-ton-trung-tu-di-san-kien-truc-the-gioi-ly-luan-va-thuc-tien.html
[31] Kỳ quan
Machu Picchu là di sản thế giới được UNESCO công nhận của Peru. Tọa lạc trên
dãy núi Andes, Machu Picchu được xây dựng vào thế kỷ 15 và được một nhà thám hiểm
người Mỹ phát hiện vào khoảng năm 1911. Kể từ đó, nó đã trở thành biểu tượng
cho kiến trúc độc đáo của Đế chế Inca. Vào mùa cao điểm du lịch, tòa thành cổ
Inca thu hút tới 5.000 du khách đến tham quan mỗi ngày.
[32] Nguồn nước thô chính
để sản xuất nước sinh hoạt cho thành phố Đà Nẵng được lấy trên sông Cẩm Lệ mà
đây là lưu vực sông Vu Gia -
Thu Bồn (tỉnh Quảng Nam). Thế nhưng, đầu nguồn của dòng sông này là hệ
thống thủy điện khá dày đặc: thủy điện A Vương, Sông Bung 2, Sông Bung 4,
Sông Bung 4A, Sông Bung 5, Sông Bung 6 (đều nằm ở thượng nguồn Quảng Nam), lượng
nước xả về đến Đà Nẵng (hạ du sông Vu Gia) phụ thuộc vào yêu cầu hoạt động của
các thủy điện này. Nhiều khi nhà máy nước Cầu Đỏ (cung cấp nước cho Đà Nẵng) không hoạt động được vì thiếu
nước hoặc bị nhiễm mặn. Không ít lần, Cục Quản lý tài nguyên nước (Bộ Tài nguyên và môi trường) phải yêu cầu các
đơn vị quản lý vận hành các hồ chứa ở Quảng Nam vận hành xả nước về hạ du liên
tục để đảm bảo cấp nước cho Đà Nẵng. Tham kiến: https://tuoitre.vn/yeu-cau-thuy-dien-o-quang-nam-dam-bao-nuoc-cho-da-nang-20210407120219994.htm;https://tuoitre.vn/dap-tam-cuu-da-nang-khoi-nguy-co-thieu-nuoc-dip-tet-20200130092906137.htm
[33] Ngộp thở những khối bê tông 'khổng lồ' vươn
trên bầu trời ngày nắng nóng. Tham kiến: https://tienphong.vn/ngop-tho-nhung-khoi-be-tong-khong-lo-vuon-tren-bau-troi-ngay-nang-nong-post1247812.tpo
[34]
Xem: Nghị định số 42/2009/NĐ-CP ngày 07 tháng 05 năm 2009 của Chính phủ Về việc phân loại đô thị.
Nhận xét
Đăng nhận xét