MỘT SỐ NỘI DUNG CHỦ YẾU VỀ QUẢN LÝ ĐÔ THỊ
MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ ĐÔ THỊ
Quản lý đô thị bao trùm lên hầu hết
các lĩnh vực trong đô thị, đối với một đô thị hiện đại, nội dung quản lý càng
phong phú hơn nhiều. Tuy nhiên, dù ở thời điểm nào, kiểu loại đô thị nào thì quản
lý đô thị chung quy ở những nội dung sau:
1. Quản lý quy hoạch đô thị
Quy hoạch đô thị là cơ sở mang
tính nền tảng để một thành phố phát triển theo một chiều hướng nhất định phù hợp
với triết lý đã được xác định, là biện pháp quan trọng nhằm xây dựng, phát triển,
định hướng trong công tác quản lý, sử dụng đất đai và các nguồn lực quan trọng
khác của thành phố, phù hợp với sự phát triển chung mang tính bền vững.
Quản lý quy hoạch đô thị là việc
chính quyền đô thị vận dụng các công cụ quy hoạch để điều tiết, kiểm soát sự
phát triển kinh tế, xã hội đô thị và sự xây dựng, biến đổi kết cấu không gian của
đô thị, qua đó mà hình thành hệ thống kinh tế, xã hội đô thị và kết cấu không
gian đô thị ưu hóa[1].
Chính vì thế, quản lý quy hoạch đô thị có vai trò định hướng, chỉ đạo, quy phạm
hóa công tác phát triển đô thị. Sứ mệnh của hoạt động quản lý đô thị là điều tiết,
bố cục, hợp lý hóa không gian kết trúc phù hợp với không gian xã hội đô thị.
Thực tế của các nước trên thế giới
cho thấy, quy hoạch đô thị được cho là nhiệm vụ vô cùng quan trọng của chính
quyền thành phố và chính phủ; cơ quan có trách nhiệm quy hoạch đô thị phải bao
gồm các cấp lãnh đạo và các nhà khoa học có trình độ, năng lực, kỹ năng thực tế
về công tác quy hoạch. Quản lý quy hoạch đô thị, trên thực tế, là hoạt động quản
lý và quá trình thực thi của các cơ quan hữu quan. Quy hoạch đô thị là hoạt động
nghiên cứu mang tính khoa học, tính thực tiễn, tính pháp lý, tính khả thi, tính
thời hạn, tính cụ thể, tính tổng hợp, tính hệ thống, tính quyền uy; một khi quy
hoạch đã được phê chuẩn và công bố thì hoạt động quản lý đô thị càng phải quyết
liệt để đảm bảo quy hoạch phải được thực thi, tránh quy hoạch một đường mà thực
thi một nẻo hay có quy hoạch chi tiết không ăn khớp, xung đột với quy hoạch tổng
thể.
2. Quản lý kinh tế đô thị
Nếu ví đô thị là một cổ máy thì yếu
tố kinh tế chính là “chất dầu nhờn” bôi trơn cỗ máy đó để nó vận hành một cách
trơn tru. Điều đó hàm nghĩa, kinh tế là nội dung quan trọng trong hoạt động quản
lý đô thị, là nhân tố khẳng định “đẳng cấp” và sự phồn vinh của một đô thị.
Thành phố, đặc biệt là các thành phố lớn hay thành phố trực thuộc trung ương,
chính là trung tâm kinh tế của địa phương, vùng, thậm chí là quốc gia. Do đó,
quản lý kinh tế đô thị có ý nghĩa vô cùng quan trọng.
Quản lý kinh tế đô thị không giống
như quản lý một công ty, xí nghiệp (tầm vi mô) và cũng không giống như quản lý
kinh tế của chính phủ (tầm vĩ mô). Quản lý kinh tế đô thị là một trong những biện
pháp cơ bản mang tầm trung mô nhằm định hướng và điều tiết sự vận hành hoạt động
kinh tế đô thị phù hợp với tính chất, công năng và yêu cầu thực tiễn của đô thị.
Tuy nhiên, cần phải thừa nhận rằng, quá trình quản lý kinh tế của một đô thị cụ
thể không tách rời hay độc lập tuyệt đối với quản lý kinh tế vĩ mô của nhà nước
mà phải đảm bảo sự lãnh đạo, chỉ đạo, định hướng chung; vừa đảm bảo cho “chất dầu
nhờn” được bơm đều để bảo đảm cổ máy đô thị vận hành một cách suôn sẻ, trơn
tru; vừa phải phù hợp với các định chế pháp luật, không xung đột với các giá trị
chung, quy hoạch chung ở tầm vĩ mô.
3. Quản lý xã hội đô thị
Quản lý xã hội đô thị chủ yếu là
quản lý các hoạt động trong đời sống của cư dân đô thị[2].
Xã hội đô thị với những quan hệ, mạng lưới xã hội của cá nhân, nhóm và hình
thành cộng đồng đô thị, họ cùng sinh sống trong một không gian, môi trường đô
thị và chạy dài theo dòng chảy lịch sử của thành phố. Ở đó, diễn ra các hoạt động
sống, hoạt động sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng; hoạt động sản xuất; hoạt
động vui chơi, giải trí. Nhằm đảm bảo điều kiện sinh tồn, phát triển; đảm bảo ổn
định, có trật tự; tạo môi trường thuận lợi để phát triển,… cần phải tiến hành
hoạt động quản lý. Nói cách khác, muốn đô thị ổn định và phát triển cần phải tiến
hành quản lý các mặt của đời sống xã hội như dân số đô thị (tính chất, quy mô,
cơ cấu, phân bố; mức sinh, mức chết, nhập cư, di dân…), an ninh, an sinh, an
toàn, trật tự, văn hóa đô thị,…
Quản lý nhân khẩu đô thị chủ yếu
là quản lý số lượng nhân khẩu (tốc độ gia tăng tự nhiên dân số, số lượng di
cư,…) và chất lượng dân số (tố chất dân số, trình độ hiểu biết pháp luật, ý thức
văn minh đô thị,…), phát triển dân cư trong quá trình đô thị hóa,…Một đô thị có
tốc độ gia tăng dân số quá nhanh (kể cả tăng dân số tự nhiên hay tăng cơ học) sẽ
dẫn đến nhiều hệ lụy như quá tải hạ tầng đô thị, kinh tế đô thị suy giảm, ô nhiễm
môi trường, các vấn đề về tệ nạn xã hội, hiện tượng đói nghèo và phân tầng xã hội
quá mức,…Lúc đó, nếu không có cơ chế, chính sách quản lý tốt sẽ khó lòng phát
triển đô thị bền vững.
Quản lý an ninh, trật tự và duy
trì trật tự đô thị có vai trò đặc biệt quan trọng đối với một đô thị, đảm bảo
môi trường sống tốt nhất cho cư dân và môi trường trị an cho các doanh nghiệp
trên địa bàn đô thị. Thậm chí, nếu không quản lý tốt vấn đề trị an đô thị thì vấn
đề an toàn sinh mạng của thị dân bị đe dọa, trật tự đô thị bị xáo trộn, niềm
tin của nhân dân đối với chính quyền đô thị bị giảm sút.
Quản lý xã hội đô thị còn phải
chú ý đến khía cạnh rất quan trọng nữa là đời sống vật chất và tinh thần của cư
dân. Người dân là một chủ thể quan trọng tạo nên “hồn cốt” của một đô thị và
đương nhiên, việc đảm bảo và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho cư dân
là nhiệm vụ trọng trọng yếu trong chiến lược phát triển đô thị. Không thể có một
đô thị sầm uất, văn minh mà đại bộ phận người dân sống trong nghèo khó, thiếu hụt
trầm trọng nhà ở, giao thông đi lại khó khăn, các thiết chế văn hóa giải trí
nghèo nàn, số lượng người nghèo quá đông, mạng lưới an sinh không được bảo đảm,
phân tầng xã hội quá mức,…
Ngoài ra, trong thời đại công nghệ
thông tin như hiện nay, quản lý xã hội đô thị còn phải đảm bảo cho mạng lưới
thông tin thông suốt và quan trọng hơn là, xử lý, ngăn chặn các thông tin không
lành mạnh, tiêu cực trên các nền tảng công nghệ mới của truyền thông xã hội, hạn
chế đến mức thấp nhất những tác động tiêu cực đến tâm tư, tình cảm, ý chí, nguyện
vọng; phát huy tính tích cực và định hướng các luồng dư luận xã hội phù hợp, tiến
bộ. Ngoài ra, chính quyền thành phố cần phải biết vận dụng các phương tiện
thông tin đại chúng, thông tin xã hội trong quản lý xã hội; trong tương tác với
thị dân; phát huy tối đa quyền làm chủ của nhân dân trong hoạt động quản lý đô
thị.
4. Quản lý môi trường sinh thái đô thị
Hệ thống sinh thái đô thị có vị
trí cực kỳ quan trọng đối với con người và đối với toàn bộ tiến trình phát triển
của một đô thị. Toàn bộ hoạt động sống (bao gồm hoạt động sản xuất, hoạt động
tái sản xuất, hoạt động vui chơi giải trí) của con người được tiến hành trong một
môi trường sinh thái nhất định. Nội dung quản lý môi trường sinh thái đô thị
bao gồm cả môi trường sinh tồn (đất, nước, không khí,…), môi trường sản xuất (đầu
vào, đầu ra của quá trình sản xuất), môi trường xã hội (môi trường nhân văn,
các giá trị, chuẩn mực đạo đức). Do đó, quản lý môi trường sinh thái đô thị, một
mặt chống suy thoái, ô nhiễm môi trường, mặt khác cần phải thông qua hoạt động
“xanh hóa” để tạo môi trường xanh, sạch, đẹp. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, nhiều
quốc gia và đô thị trên thế giới mặc dù luôn đề cập đến tăng trưởng xanh, phát
triển bền vững như do yếu kém (kể cả khách quan và chủ quan) về công tác quản
lý nên càng gây nên những hệ lụy cho môi trường sinh thái.
Rõ ràng, trong quá trình phát triển
của một quốc gia hay đô thị, mục tiêu tăng trưởng kinh tế nhiều khi xung đột với
mục tiêu bảo vệ môi trường, thậm chí do áp lực của sự tăng trưởng mà nhiều đô
thị đã bất chấp vấn đề môi trường và “phát huy” khẩu hiệu “tăng trưởng trước, dọn
dẹp sau” mà sau đó mới “bật ngửa” ra là, chỗ nào cũng có rác thải, ngập lụt nội
thị trầm trọng,… Rác thải công nghiệp có mặt từ trong phòng ngủ ra đến đường phố.
Những bãi rác khổng lồ ở thành phố Sao Paulo của Brazil hay ở Metro Manila của
Philippines dài hàng chục km đáng được ghi vào sách kỷ lục thế giới[3].
Ai cũng biết và thừa nhận rằng,
môi trường sinh thái suy thái và vấn đề ô nhiễm sẽ tác động tiêu cực đến chất
lượng sống của người dân, thậm chí là nhân tố làm suy giảm năng lực sản xuất,
thế nhưng như đã đề cập, áp lực của vấn đề tăng trưởng kinh tế khiến nhiều nhà
quản lý “tạm gác” vấn đề môi trường để “tập trung” cho sản xuất. Do đó, quản lý
môi trường sinh thái đô thị cần phải được chính quyền đô thị trọng thị và quyết
tâm thực hiện một cách nghiêm túc, chỉ có như vậy mới nâng cao chất lượng sống
cho nhân dân, tạo hình ảnh đẹp (và cũng là nhân tố tích cực) đối với du khách;
phát triển ngành kinh tế du lịch cho đô thị.
TS. Phạm Đi
[1] Phạm Ngọc Côn, Kinh tế học đô thị, Nxb. Khoa học và kỹ thuật, H.1999, tr.472.
[2] Do tính chất quan trọng của thành tố xã hội
(tổ chức xã hội) nên vấn đề quản lý xã hội đô thì sẽ được phân tích cụ thể hơn ở
chương sau, phần này chỉ sơ lược về quản lý xã hội đô thị với tư cách là một nội
dung trong hoạt động quản lý.
[3] Nguyễn Minh Hòa, Đô thị học – Những vấn đề lý thuyết và thực tiễn, Nxb. Đại học quốc
gia TP.HCM, 2012, tr.7
Nhận xét
Đăng nhận xét