LÀM GÌ ĐỂ TRỞ THÀNH THÀNH PHỐ THÔNG MINH?
CÁC LĨNH VỰC CẦN ĐƯỢC KIẾN TẠO
ĐỂ TRỞ THÀNH THÀNH PHỐ THÔNG MINH
Đối với các quốc
gia và thành phố tiến hành xây dựng thành phố thông minh, do bởi điều kiện hiện
hữu (kinh tế, nền tảng ICT, đội ngũ nhân lực, sự tham gia của các lực lượng xã
hội,….), thông thường, xác định một số lĩnh vực cần thiết nhất, cơ bản nhất để
kiến tạo chứ không làm tràn lan, không có tiêu điểm hay đầu tư dàn trải. Nói
cách khác, trước khi triển khai hiệu quả một số dịch vụ trên nền tảng đô thị
thông minh cần xác định mô hình và lĩnh vực để triển khai bước đầu, tiến hành
đánh giá và phổ biến, nhân rộng. Trong điều kiện ở Việt Nam và một số thành phố
tiến hành thí điểm đô thị thông minh cần tiến hành trên một số lĩnh vực cụ thể
sau: (1) Cộng đồng-dân sinh (cộng đồng thông minh, giáo dục thông minh,
an toàn vệ sinh thực phẩm thông minh, y tế-chăm sóc sức khỏe thông minh); (2) Chính
trị-hành chính (thể chế-chính sách, chính quyền thông minh, tư pháp, chỉ
huy ứng cứu, hành chính công, đường dây nóng của chính quyền đô thị); (3) Sản
xuất-kinh doanh-dịch vụ (du lịch thông minh, tài chính thông minh, giao
thông-vận tải thông minh, khai thác-bảo vệ tài nguyên thông minh, cung cấp dịch
vụ điện, nước, năng lượng thông minh).
1. Cộng đồng thông
minh
Cộng đồng thông minh là một khái niệm mới, được hình thành song hành với xã
hội thông minh, quản lý thông minh, thành phố thông minh. Thông qua việc áp dụng
sự tiến bộ của công nghệ thông tin, Internet, máy tính, mạng di động và các
công cụ truyền thông thông minh khác nhằm tăng hiệu quả phục vụ, chất lượng dịch
vụ (dịch vụ công, thương mại, giải trí,
giáo dục, y tế và chăm sóc sức khỏe,... ). Từ góc độ ứng dụng nhìn nhận, “cộng
đồng thông minh” lấy “chính quyền đô thị thông minh” để nâng cao hiệu quả phục
vụ công, mỗi “khu phố thông minh” đơn vị biểu hiện sự phát triển, lấy “gia đình
thông minh” làm hạt nhân phục vụ và lấy “con người thông minh” để tiếp tục cải
thiện đời sống cho mỗi thị dân.
Xây dựng cộng đồng thông minh, như đã đề cập ở trên, xuất phát từ khái niệm
thành phố thông minh, lấy cộng đồng làm xuất phát điểm để mang lại hạnh phúc
cho con người, thúc đẩy xã hội tiến bộ. Có thể nói, “cộng đồng thông minh”
chính là “tế bào” của “thành phố thông minh”. Một số nội dung cơ bản trong xây
dựng cộng đồng thông minh như sau:
Thứ nhất, quản lý tài sản thông
minh. Căn cứ vào đặc điểm và mức độ thông minh hiện hữu của cộng đồng, tiến
hành thiết lập hệ thống liên quan đến quản lý tài sản thông minh. Ví dụ: Quản
lý chỗ đậu đỗ xe cá nhân và chống trộm thông minh, hệ thống báo động thông
minh, khóa cửa thông minh,...
Thứ hai, dịch vụ thương mại điện
tử thông minh. Các hoạt động thương mại điện tử trong cộng đồng từng bước được
tiến hành thông qua hình thức trực tuyến; cư dân không cần tiếp xúc trực tiếp
hoặc không cần ra khỏi nhà vẫn có thể mua sắm hay tiến hành các giao dịch để thỏa
mãn các nhu cầu thiết yếu của đời sống.
Thứ ba, dịch vụ người cao tuổi
thông minh. Việt Nam đang trong thời kỳ dân số vàng nhưng cũng bắt đầu bước qua
thời kỳ già hóa dân số với tốc độ khá nhanh. Hiện người cao tuổi trong các đô
thị hoặc ở trú tại nhà với con cái, hoặc đến các viện dưỡng lão. Dù hình thức
nào thì áp dụng các phương tiện thông minh cũng giúp cho người cao tuổi tiếp cận
được các dịch vụ và được phục vụ tốt hơn.
Thứ tư, ngôi nhà thông minh. Từ
thiết kế, xây dựng đến vận hành, bảo quản và phòng ngừa các rủi ro cho ngôi nhà
cũng có thể áp dụng các kỹ thuật thông minh. Vừa đảm bảo tính tiện lợi, an
toàn, vừa tiết kiệm được nhiều chi phí trong vận hành, duy tu bão dưỡng, nâng
cao chất lượng sống cho cư dân.
2. Y tế thông minh
Xuất phát từ yêu cầu và cơ sở thực tiễn, khi tiến hành xây dựng đô thị
thông minh thì lĩnh vực y tế cũng phải tiến hành cải cách, xây dựng theo hướng
thông minh trên 3 “lớp” (đối tượng) then chốt là: người dân, các cơ sở y tế và
công tác quản lý nhà nước của ngành y tế.
- Đối với người dân: Mục đích là để người dân thuận lợi hơn khi có nhu
cầu sử dụng các dịch vụ khám chữa bệnh; dễ dàng tương tác với ngành y tế để phản
ánh/phản hồi, để được hướng dẫn/thực hiện; hướng đến người dân tự quản lý được
sức khoẻ của mình với sự kết nối từ xa những thông số sức khoẻ với các cơ sở
khám, chữa bệnh ban đầu.
- Đối
với các cơ sở khám, chữa bệnh: Mục đích là để đội ngũ bác sĩ, nhân viên y tế tiếp
cận được các kiến thức khoa học mới, kỹ thuật mới; giảm thiểu các nguy cơ sai
sót ảnh hưởng đến chất lượng và an toàn người bệnh; giảm bớt được các thủ tục
hành chính, giấy tờ trong bệnh viện; bác sĩ tuyến dưới có thể kết nối dễ dàng với
bác sĩ tuyến trên để hội chẩn, để được tư vấn và đưa ra các quyết định điều trị.
- Đối với công tác quản lý nhà nước của
ngành y tế: Hướng đến triển
khai hiệu quả công tác điều phối, giám sát, cảnh báo, dự báo đối với hoạt động
của các cơ sở khám, chữa bệnh và các cơ sở y tế khác; đẩy mạnh cải cách hành
chính của ngành y tế, triển khai hiệu quả dịch vụ công trực tuyến.
Muốn làm được điều
đó, cần phải có hệ thống giải pháp đồng bộ, khả thi để tiến hành kiến tạo y tế
thông minh. Trước hết, cần phải xác định các “điều kiện cứng” khi tiến hành xây
dựng y tế thông minh. Đó là: (1) Hạ tầng cứng (Hạ tầng cứng đầu tư hay thuê, phải
tính toán đảm bảo hiệu năng xử lý, đảm bảo an toàn trong vận hành không bị sự cố
khi gặp lỗi đơn, đảm bảo tính thiết kế kết nối song song và dự phòng). Hạ tầng
cứng đủ mạnh để ứng dụng các ứng dụng quản lý bệnh viện trên nền tảng IP
(Internet protocol) như: tổng đài IP, hệ thống gọi điều dưỡng, nhận diện người
bệnh, quản lý âm thanh, ánh sáng, …; hạ tầng kết nối các thiết bị di động, giúp
nhân viên y tế, thiết bị y tế tương tác chủ động với người bệnh; (2) Nhân lực chuyên trách về
công nghệ thông tin và truyền thông (nhân lực ICT phục vụ ngành
y tế, ngoài kiến thức công nghệ thông tin thì cần phải có kiến thức và am hiểu
về các quy trình, nghiệp vụ y tế, kiến thức về bảo hiểm y tế và các vấn đề liên
quan).
Sau đây là các
nhóm giải pháp cần được nghiên cứu và áp dụng trong triển khai y tế thông minh:
(1) Hoàn thiện hệ thống phần mềm quản lý bệnh viện[1] ( Chuẩn hóa cở sở dữ liệu, trục thông tin quản lý bệnh viện đảm bảo cung cấp
được các thông tin quản lý bệnh viện, đáp ứng các yêu cầu phát sinh trong quá
trình quản lý điều hành bệnh viện. Đáp ứng yêu cầu kết nối các hệ thống khác
thông qua chuẩn dữ liệu HL7[2]; Đáp ứng đầy đủ thông tin liên thông bảo hiểm y tế,
cổng dữ liệu bảo hiểm y tế, đảm bảo tính chính xác của dữ liệu (theo Quyết định
số 4210/QĐ-BYT)[3]; (2) Triển khai hệ thống quản
lý xét nghiệm (LIS)[4] (Chuẩn hóa danh mục xét nghiệm, liên kết với danh mục chỉ định và danh mục
viện phí của phần mềm HIS[5]; Kết nối và nhận dữ liệu các chỉ định của bác sĩ
từ phần mềm HIS; Kết nối dữ liệu kết quả xét nghiệm trực tiếp từ các máy xét
nghiệm, dữ liệu kết quả được thẩm định và lưu trữ vào phần quản lý kết quả xét
nghiệm LIS; Trả kết quả về hệ thống HIS); (3) Triển khai hệ
thống lưu trữ và luân chuyển hình ảnh (PACS)[6] và quản lý thông tin
chẩn đoán hình ảnh (RIS)[7], gồm (Tương tự như hệ thống LIS, có khả năng tương tác với
hệ thống HIS (nhận dữ liệu và trả dữ liệu cho HIS); Lưu trữ và luân chuyển dữ
liệu hình ảnh theo chuẩn DICOM, giao tiếp dữ liệu với hệ thống HIS bằng chuẩn
HL7); (4) Tích hợp hệ thống HIS, LIS, PACS/RIS, tức là kết
nối các dữ liệu từ HIS, LIS, PACS/RIS cho từng hồ sơ bệnh nhân; (5) Xây dựng bệnh án điện tử (Số hoá hồ sơ bệnh án dựa
trên chuẩn dữ liệu y tế HL7 đảm bảo liên thông dữ liệu giữa các cơ sở y tế; Số hoá
kho hồ sơ bệnh án đảm bảo lưu trữ và phục vụ công tác nghiên cứu khoa học;
Nghiên cứu và chọn lựa công nghệ chữ ký số, tiến đến bệnh án điện tử); (6) Ứng dụng các
công nghệ nhận dạng mới (nhận diện người bệnh,
tránh nhầm lẫn thông tin người bệnh, định vị người bệnh trong quá trình điều
trị tại bệnh viện qua các công nghệ nhận dạng như: mã vạch, điện thoại thông
minh, giọng nói, khuôn mặt, vân tay, RFID (Radio Frequency
Identification),…; (7) Ứng dụng các thuật
toán về máy học (Machine Learning), tiến hành xây
dựng các hệ thống nhắc tự động, hệ thống cảnh báo, dự báo thời gian chờ khám,
chờ xét nghiệm, hướng dẫn người bệnh nhằm tránh ùn tắc cục bộ trong quá trình
khám bệnh, chuyển lời đọc thành văn bản trong hồ sơ bệnh án điện tử,… bằng nguồn
dữ liệu sẵn có của bệnh viện và công nghệ dựa trên các thuật toán về máy
học; (8) Nghiên cứu và ứng dụng các phần mềm trí tuệ nhân tạo vào hoạt động chẩn
đoán và điều trị (Trí tuệ nhân tạo có thể cung cấp thông
tin hỗ trợ cho nhân viên y tế trong công tác chẩn đoán và điều trị từ việc phân
tích và tổng hợp dựa trên kho dữ liệu lớn (Big data) về dữ liệu y khoa, phác đồ
điều trị của bệnh viện và trên thế giới; Trí tuệ nhân tạo có thể cung cấp những
thông tin hữu ích đến người bệnh giúp tìm kiếm thông tin cơ bản về bệnh); (9) Xây dựng ứng
dụng tương tác với người bệnh trên thiết bị di động, web (Xây
dựng các ứng dụng tương tác với người bệnh thông qua thiết bị di động, web nhằm
kết nối và cung cấp thông tin với người bệnh khi cần thiết; Xây dựng các ứng dụng
tương tác và trả lời người bệnh (IP: Internet Protocol), ứng dụng công nghệ máy
học và trí tuệ nhân tạo AI; (10) Đảm bảo an toàn thông
tin (xây dựng các quy trình, quy định, các chính sách liên
quan đến vận hành hệ thống thu thập số liệu phần mềm quản lý bệnh viện từ khâu
tiếp nhận bệnh đến xuất viện (nội trú, ngoại trú), kết thúc lần khám; sử dụng
và khai thác thông tin bệnh án điện tử,…)[8].
3. Giáo dục thông
minh
Từ vai trò, vị
trí, tính chất, chức năng của đô thị[9]
nhìn nhận, thì chức năng chính của đô thị là trung tâm kinh tế, tài chính, hành
chính, khoa học-kỹ thuật, giáo dục-đào tạo, du lịch, y tế, đầu mối giao thông,
giao lưu trong nước và quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã
hội của cả nước. Như vậy khi xây dựng đô thị thông minh thì các chức năng cơ bản
của đô thị phải được vận hành thông suốt bằng các nền tảng công nghệ thông tin
và truyền thông. Trong đó, giáo dục-đào tạo là một lĩnh vực quan trọng. Nói
cách khác, giáo dục thông minh là một lĩnh vực cần được tiến hành kiến tạo sớm
trong tiến trình xây dựng đô thị thông minh.
Trong thời gian gần
đây, giáo dục thông minh đã và đang thu hút sự chú ý của các nhà giáo dục và
các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục. Đặc biệt, áp dụng các giải pháp công
nghệ thông tin vào các hoạt động cơ bản của giáo dục là quản lý (quản lý chương
trình, quản lý quá trình đào tạo, quản lý kết quả,…), hoạt động dạy và học.
Trước hết cần phải
xác định mô hình giáo dục thông minh, hoặc chí ít sự khác biệt giữa mô thức giáo
dục truyền thống với giáo dục hiện đại gắn với nền tảng công nghệ thông tin và
truyền thông mới. Nhiều người có cách hiểu “đơn giản hóa” về giáo dục thông
minh nghĩa là chỉ cần có yếu tố ICT hay có Internet là sẽ trở nên thông minh;
nhiều người lại có xu hướng phủ nhận các mô thức của giáo dục truyền thống khi
áp dụng giáo dục thông minh; nhưng cũng không ít người cho rằng giáo dục thông
minh là người học phải biết và có khả năng sử dụng thành thạo các thiết bị
thông minh.
Tất cả những cách
nhìn nhận trên đều chưa chính xác, thể hiện “thiên lệch” hoặc quá cường điệu đối
với vai trò và sức ảnh hưởng của ICT trong giáo dục. Giáo dục thông minh không
hoàn toàn phủ nhận các phương pháp, cách thức và mô thức của giáo dục truyền thống.
Giáo dục thông minh cũng phải lấy người học làm trung tâm và mục tiêu (đầu ra)
là hình thành nhân cách, trí tuệ, năng lực cho người học thể hiện qua các chiều
cạnh là “trí, đức, thể, mỹ”. Đáp ứng một cách đầy đủ về năng lực và nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực cho quốc gia, cộng đồng, đô thị. Theo lát cắt cấu trúc-chức
năng thì giáo dục thông minh cần thể hiện qua môi trường đào tạo thông minh,
con người thông minh, đào tạo thông minh, nghiên cứu thông minh, quản trị thông
minh và ảnh hưởng thông minh.
Trong giai đoạn đầu
xây dựng thành phố thông minh gắn với giáo dục thông minh, các đô thị của Việt
Nam cần chú ý 3 lớp chính là hệ thống quản lý giáo dục, quá trình dạy và học, kết
quả học tập gắn với đầu ra. Thông qua các nền tảng công nghệ hiện đại như: điện
toán đám mây, kết nối vạn vật, trực quan hóa dữ liệu, phòng thí nghiệm ảo, kết
nối cảm biến không dây để nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục, cải thiện chất lượng
và sự an toàn đối với hạ tầng trường học, giảm các chi phí không cần thiết.
Nhanh chóng phổ cập lớp học đa phương tiện tại trường học, ứng dụng ICT trong kết
nối gia đình và nhà trường, sử dụng số liên lạc điện tử gồm tin nhắn, ứng dụng
trên thiết bị thông minh,…

Sơ đồ: Mô
hình dịch chuyển từ giáo dục truyền thống sang giáo dục thông minh
Song song với đó, cần áp dụng các nền tảng phân tích giáo dục
bằng các phần mềm quản lý trường học; áp dụng hệ thống quản lý chất lượng giáo viên, hệ thống định danh sinh trắc học và hệ thống quản
lý chất lượng học sinh,… nhằm hướng đến đánh giá một cách khách quan, khoa học
chất lượng đội ngũ giáo viên và học sinh; giám sát chặt chẽ chất lượng học sinh
cũng như việc đi học đúng giờ, chấp hành các nội quy, quy chế của cơ sở đào tạo.
Về dạy và học, cần tăng cường các nền tảng trực tuyến, hệ thống
hội nghị hội thảo khoa học truyền hình, đào tạo giáo dục trực tuyến, quản lý
chương trình giáo dục bằng các phần mềm chuyên dụng.
4. Dịch vụ an toàn vệ
sinh thực phẩm thông minh
An toàn vệ sinh thực
phẩm là một trong những lĩnh vực cần thiết và chủ yếu trong xây dựng đô thị
thông minh. Với đặc thù về tính chất, quy mô, mật độ dân số của đô thị thì vấn
đề an toàn vệ sinh thực phẩm cần phải được kiểm soát một cách chặt chẽ, khoa học
và có hệ thống. Khi xây dựng thành phố thông minh thì cần phải tính đến vấn đề
áp dụng công nghệ và kỹ thuật hiện đại để quản lý, giám sát. Từ việc thống kê
các cơ sở sản xuất, đóng gói bao gồm các đơn vị
đang hoạt động, có sản phẩm có đăng ký kinh doanh, có cung cấp sản phẩm trực tiếp ra thị trường
(bao gồm cả nhập khẩu từ nước ngoài) phải có công bố thông tin hoặc biện pháp hỗ
trợ xác thực nguồn gốc hàng hóa. Việc ứng dụng ICT trong đảm bảo an toàn vệ
sinh thực phẩm ở đô thị nhằm hướng đến chất lượng cuộc sống của thị dân trong
lĩnh vực thực phẩm và an toàn khi sử dụng. Chí ít thì chỉ cần một chiếc điện
thoại thông minh thì người tiêu dùng có truy xuất nguồn gốc hàng hóa (sản xuất,
lưu thông, phân phối, mua bán, kiểm soát,...).
5. Du lịch thông
minh
Du lịch thông minh
(Smart Tourism) là việc ứng dụng Internet, máy
tính và kỹ thuật ICT để nâng cao hiệu quả quản lý du lịch, phát triển ngành du
lịch cho đô thị; giúp du khách và người tham quan có thể nắm bắt các thông tin
cần thiết có liên quan một cách chính xác, nhanh chóng, tiết kiệm khi đến thành
phố. Nói một cách giản đơn, thông qua sự tương tác giữa người và mạng internet,
du khách có thể kịp thời nắm bắt các thông tin cần thiết để sắp xếp lịch trình
và kế hoạch cho mình. Du lịch thông minh gồm 3 tầng diện cơ bản là: quản lý du
lịch thông minh, phục vụ thông minh và tiếp thị/tiêu dùng du lịch thông minh.
Về quản lý du lịch thông minh, cần nhanh chóng chuyển từ phương thức quản
lý du lịch truyền thông sang mô thức quản lý hiện đại. Thông qua áp dụng các biện
pháp kỹ thuật có thể nắm bắt kịp thời, chính xác thông tin về
hoạt động du lịch của khách và những thông tin kinh doanh của các doanh nghiệp hoạt
động trong lĩnh vực du lịch, từ đó có quyết định đúng đắn kịp thời trong xử lý
những vấn đề liên quan. Chuyển từ hướng giải quyết bị động sang chủ động, từ
“việc đã rồi” đến chủ động ứng phó những việc có thể xảy ra trong hoạt động du
lịch của đô thị.
Bên cạnh đó, du lịch thông minh cần có sự phối hợp, chia sẻ, kết hợp với
các bộ phận chuyên môn như công an, viện kiểm sát, y tế, công thương, giao
thông để xử lý vấn đề và dự báo các tình huống phát sinh, nâng cao năng lực ứng
phó và đảm bảo an toàn cho du khách, duy trì an ninh-trật tự cho thành phố.
Du lịch thông minh cũng cần chú ý đến số liệu (dữ liệu, thông tin) của du
khách để dần hình thành hệ thống dữ liệu và tiến hành phân tích để “thấy” được
xu thế, nhu cầu của các nhóm du khách để có kế hoạch trong quản lý một cách
khoa học. Ngoài ra, thông qua vận dụng sự tiến bộ của công nghệ và mạng
Internet, có thể cải thiện tối đa các dịch vụ cung ứng, nâng cao trình độ quản
lý cũng như sức cạnh tranh các sản phẩm du lịch địa phương. Tăng cường tương
tác giữa khách du lịch, các nguồn tài nguyên du lịch, công ty du lịch và cơ
quan quản lý về du lịch, phát huy tối đa nguồn lợi từ ngành kinh tế du lịch cho
sự phát triển của thành phố.
Về phục vụ thông minh, xuất phát từ yêu cầu
và nhu cầu của du khách, thông qua các kỹ thuật về ICT giúp du khách có những trải
nghiệm thú vị hơn và nâng cao chất lượng của chuyến đi. Toàn bộ các quá trình từ
việc thu thập thông tin du lịch, ra quyết định lập kế hoạch du lịch, đặt và
thanh toán sản phẩm du lịch, thưởng thức chuyến du lịch và xem xét, đánh giá chất
lượng dịch vụ của du khách cần phải được “cân đong đo đếm” để tăng cường công
tác phục vụ.
Trong thời đại công nghệ thông tin, việc du khách quyết định du lịch đến một
quốc gia hay đô thị nào đó chịu tác động của nhiều yếu tố, trong đó thông tin
đóng vai trò then chốt (người ta sẽ không đến một nơi nào đó khi họ không biết
rõ các thông tin liên quan: nơi lưu trú, giá cả dịch vụ, thức ăn, con người,
quan cảnh,...), do đó, “du lịch thông minh” sẽ hiện thực hóa những yêu cầu đó của du khách thông qua
hệ thống Internet, công nghệ định vị, điện toán đám mây,..., từ đó giúp quá
trình đi lại của khách du lịch suôn sẻ hơn, thoải mái và hài lòng hơn khi đi du
lịch, đồng thời mang lại sự đảm bảo an toàn du lịch tốt hơn cho du khách, cuối
cùng nâng cao chất lượng, hiệu quả du lịch.
Ngoài ra, du lịch
thông minh sẽ thúc đẩy việc chuyển đổi phương thức tiêu dùng du lịch truyền thống
sang phương thức tiêu dùng du lịch hiện đại, định hướng cho du khách hình thành
thói quen du lịch mới và tạo ra văn hóa du lịch trong thời đại thông tin.
Về tiếp thị/tiêu dùng du lịch thông minh, thông qua quan sát và phân tích các dữ liệu đã được thu thập, người quản lý
du lịch có thể biết được xu hướng và các điểm du lịch mà du khách quan tâm khi
đến thành phố, từ đó hướng dẫn cho các công ty du lịch lập kế hoạch sản phẩm du
lịch và các chủ đề tiếp thị/tiêu dùng tương ứng, nhanh chóng đổi mới sản phẩm
và đổi mới tiếp thị trong ngành du lịch.
Nói tóm lại, du lịch
thông minh đô thị là thông qua các phương tiện hỗ trợ của ICT, chính quyền đô
thị và các quan hữu quan có sự phối hợp và định hướng một cách chính xác, hiệu
quả phát triển kinh tế du lịch cho thành phố bằng cách: khuyến khích du khách đến
với thành phố, định hướng tham quan các điểm du lịch và định hướng tiêu dùng,
mua sắm.
6. Giao thông thông
minh
Đối với một đô thị
thì giao thông đóng vai trò hết sức to lớn, được ví như mạch máu trong cơ thể
con người. Hiện tại, hầu hết các đô thị lớn của chúng ta đều phát sinh và tồn tại
vấn đề về ùn tắc giao thông một cách khá nghiêm trọng. Do đó, kiến tạo thành phố
thông minh thì phương diện giao thông cần phải ưu tiên phát triển theo hướng
thông minh để tạo sự thông suốt trong lưu thông cho người và hàng hóa.
Giao thông thông
minh[10]
là hệ thống các ứng dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến hướng tới mục tiêu cung cấp
các giải pháp, dịch vụ hữu ích cho người và phương tiện tham gia giao thông,
giúp tổ chức giao thông an toàn, thuận tiện hơn và hạn chế các tai nạn, sự cố
khi tham gia giao thông. Thực chất của giao thông thông minh là tăng cường mối
tương thông, liên kết giữa con người với con người, con người với hạ tầng và
phương tiện giao thông để tối ưu hóa hiệu suất hoạt động. Muốn vậy, con người
mà cụ thể là chính quyền đô thị cần phải thu thập các thông tin liên quan, tiến
hành xử lý và đưa ra các giải pháp bằng cách ứng dụng ICT một cách tối đa để kết
nối các thành tố, hình thành hệ sinh thái giao thông thông minh.
Một số lĩnh vực,
phương diện chủ yếu của giao thông thông minh gồm: (1) Hoàn thiện kết cấu hạ tầng
đường bộ và xử lý khẩn cấp các sự cố giao thông; (2) Hiện đại hoá các trạm thu
phí tự động và trạm cân điện tử; (3) Giảm tai nạn, ùn tắc giao thông và giảm ô
nhiễm môi trường; (4) Tiết kiệm thời gian, tiền bạc và nhiên liệu, tạo điều kiện
thuận lợi tối đa cho việc đi lại và vận chuyển hàng hóa; (5) Quản lý các
đường trục giao thông chính, điều tiết việc đi lại của phương tiện trên đường bằng
biển báo điện tử; (6) Tạo ra hệ thống thông tin cho người đi đường, phổ cập văn
hoá giao thông và hỗ trợ quá trình khai thác, điều hành hệ thống giao thông
công cộng một cách linh hoạt, chủ động, chống ùn tắc; (7) Góp phần trong việc sản
xuất các phương tiện thông minh, hạn chế ô nhiễm môi trường và nâng cao hiệu quả
của thiết bị an toàn giao thông.
7. Dịch vụ công
thông minh
Cải cách nền hành
chính quốc gia theo hướng hiện đại hóa, số hóa dần hình thành chính phủ điện tử
là chủ trương của Đảng và Nhà nước ta. Do đó, khi xây dựng thành phố thông minh
thì việc hoàn thiện dịch vụ công theo hướng thông minh bằng cách áp dụng tiến bộ
của công nghệ thông tin vào các lĩnh vực cụ thể để giảm thủ tục, chi phí; tăng
tính tương tác và sự minh bạch giữa các cơ quan hành chính với công dân; từng
bước nâng cao chất lượng phục vụ, góp phần kiến tạo nền hành chính phục vụ.
Trước hết cần tăng cường ứng dụng ICT
trong cung cấp dịch vụ công trực tuyến (thủ tục đăng ký kết hôn, khai sinh,
khai tử, hộ tịch, hộ khẩu, giấy phép xây dựng nhà ở,….); mỗi giao dịch công cần
phải ứng dụng một mã số điện tử. Song song với đó, tăng cường các dụng ICT hỗ
trợ giám sát chất lượng dịch vụ công cộng.
8. Hệ thống giám
sát, điều hành thông minh
Thông qua sử dụng công nghệ xử lý và nhận dạng hình ảnh, đặc trưng, khuôn mặt
bằng công nghệ xử lý thị giác, máy tính sẽ nhận các mô đun dữ liệu và tiến hành
phân tích và lọc thông tin để đưa ra những thông số, chỉ báo, đặc điểm cho người
quản lý.
Với công nghệ hiện nay, máy tính sẽ tự động xác định các đối tượng khác
nhau, phân tích và trích xuất thông tin hữu ích chính từ nguồn video và các nguồn
thông tin thu nhận, định vị nhanh chóng các sự việc, sự kiện (có thể là một vụ
tai nạn hay một vấn đề nào đó), cảnh báo cho nhà quản lý những tình hình bất
thường và tự động báo
động hoặc kích hoạt các hành động khác theo cách nhanh nhất và tốt nhất để nhà
quản lý đưa ra quyết định xử lý.
Để thực hiện hiệu
quả, chính xác cho việc cảnh báo trước, cảnh báo sớm và xử lý những vấn đề liên
quan, hệ thống máy tính sẽ giúp nhà lãnh đạo, quản lý giám sát toàn bộ hoạt động
của thành phố (giao thông, y tế, hành chính công, cảnh báo rủi ro, xử lý điểm
nóng, xử lý nước thải, xử lý rác thải, tiếng ồn, ô nhiễm đất đai, ô nhiễm nguồn
nước, an ninh trật tự,...).

Sơ đồ: Các
lĩnh vực của thành phố thông minh
Nguồn: https://baoxaydung.com.vn/thanh-pho-thong-minh-va-van-de-quan-tri-do-thi-194861.html
[1]
Hospital Information System gọi tắt là HIS.
[2] Tiêu chuẩn
HL7 (Health Level 7) là tiêu chuẩn quốc tế cung cấp giao thức chuẩn về
quản lý, trao đổi và tích hợp dữ liệu y tế giữa các hệ thống thông
tin y tế nhằm hỗ trợ các hoạt động y tế. Tham kiến: Thông tư 53/2014/TT-BYT ngày 29 tháng 12 năm 2014 của Bộ Y tế về
Quy định điều kiện hoạt động y tế trên môi
trường mạng.
[3] Quyết
định số 4210/QĐ-BYT ngày 20 tháng 9 năm 2017 của Bộ Y tế về việc quy định chuẩn và định
dạng dữ liệu đầu ra sử dụng trong quản lý, giám định và thanh toán chi phí khám
bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế.
[4] Laboratory
Information System viết tắt là LIS. Phần mềm LIS cho phép tra cứu
thông tin người bệnh, bệnh phẩm theo nhiều tiêu chí như mã bệnh phẩm, tên bệnh
phẩm, trạng thái, thời gian, lịch sử thực hiện xét nghiệm và cho phép hiển thị,
in kết quả tìm kiếm. LIS cho phép quản lý danh sách, thông tin chi tiết các chỉ
định và kết quả xét nghiệm đã thực hiện; quản lý được trạng thái của quá trình
xét nghiệm như đã lấy/chưa lấy mẫu, đã xét nghiệm/chưa xét nghiệm, đã có kết quả/chưa
có kết quả.
[5] Hospital Information System là phần mềm quản lý bệnh
viện. Hiện nhiều quốc gia trên thế giới đã áp dụng nhiều lớp (kiểu, trình độ quản
lý) phần mềm theo các mức độ khác nhau: Nhóm cơ bản (Basic Hospital
Information System - BHIS); Nhóm trung bình (Intermediate Hospital Information
System- IHIS) và nhóm tổng thể (Total Hospital Information System - THIS).
[6] Picture
Archiving and Communication Systems – PACS, là hệ thống lưu trữ và truyền hình ảnh
cho phép lưu trữ hình ảnh một cách an toàn và kinh tế, đồng thời truyền dữ liệu
giúp cho việc hội chẩn, chẩn đoán, điều trị, đào tạo và nghiên cứu từ xa.
[7] Radiology Information
System – RIS, là hệ thống phần mềm được triển khai tại Khoa chẩn
đoán hình ảnh. RIS bao gồm các thành phần và có tổ chức gần giống với HIS nhưng
ở quy mô nhỏ hơn với các chức năng: quản lý thông tin bệnh nhân, quản lý danh
sách bệnh nhân đến chụp - chiếu tại khoa, số liệu chụp - chiếu và kết quả chẩn
đoán... Thông tin dữ liệu của RIS gồm dạng Text và dạng ảnh theo tiêu chuẩn
DICOM được lấy từ các thiết bị chiếu chụp: X-quang, cắt lớp, siêu âm, cộng hưởng
từ…
[9] “Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống
có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là
trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa hoặc chuyên ngành, có vai trò
thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một
địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của
thị xã; thị trấn” (Theo Thông tư 34/2009/TT-BXD ngày 30/9/2009 của Bộ xây dựng
về Quy định
chi tiết một số nội dung của Nghị định 42/2009/NĐ-CP ngày 07/5/2009 của Chính
phủ Về việc phân loại đô thị ).
[10] Intelligent Transport Systems – ITS
Nhận xét
Đăng nhận xét