VẬN DỤNG TƯ DUY HỆ THỐNG VÀO HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

 

TƯ DUY HỆ THỐNG VÀ VIỆC VẬN DỤNG TƯ DUY HỆ THỐNG VÀO HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC, GIẢI QUYẾT CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI

Trích yếu:

Tư duy hệ thống là một kiểu phương pháp tư duy xem đối tượng nhận thức như một chỉnh thể, từ mối liên hệ tương hỗ giữa các thành tố, môi trường và các tiểu hệ thống mà xem xét, đánh giá sự tác động qua lại giữa chúng như một thực thể hữu cơ. Do đó, việc kiến giải, nhận thức, giải quyết các vấn đề xã hội và hoạch định chính sách cần phải có phương pháp tiếp cận hệ thống, phải dùng “hệ thống quan” để xem xét, đánh giá;tránh cái nhìn phiến diện, một chiều, đơn lẻ dễ dẫn đến hiện tượng “thấy cây mà không thấy rừng” hay phán đoán sự vật theo kiểu “thầy bói xem voi”. Bài viết chủ yếu đi vào giải quyết vấn đề: làm sao để có cái nhìn tổng thể, toàn cục, chỉnh thể trong phương thức tiếp cận, xem xét, giải quyết vấn đề và hoạch định, thực thi chính sách công; vận dụng tư duy hệ thống vào tổ chức và quản lý nhà nước.

Từ khóa: Hệ thống quan, tư duy hệ thống, tư duy phiến diện.

 

 


Hệ thống có thể tìm thấy trong tất cả các lĩnh vực từ tự nhiên đến xã hội, nó có thể tồn tại ở dạng hệ thống không trí tuệ (như một tòa nhà, chiếc đồng hồ, chiếc xe, nhà máy,…) hay đơn trí tuệ (tức là hệ thống sinh học như cây cối hay động vật hoặc đa trí tuệ (hệ thống xã hội). Nhưng dù tồn tại ở trạng thái nào, lĩnh vực nào thì hệ thống vẫn có một đặc điểm chung là tập hợp các phần tử có quan hệ hữu cơ với nhau, tác động chi phối lẫn nhau theo các quy luật nhất định và thực hiện một chức năng nhất định nào đó. Đặc trưng cơ bản của một hệ thống là tính kết cấu, tính thứ bậc, tính mục đích (mục tiêu), tính giới hạn, tính biến đổi, tính chỉnh thể, trong đó tính chỉnh thể là đặc trưng và là quan điểm cốt yếu nhất khi xem xét một hệ thống.

Điều này gần như là một kiến thức “thường thức” trong nghiên cứu khoa học, trong xem xét đáng giá vấn đề. Tuy nhiên, từ khía cạnh lý luận về khoa học hệ thống cũng như từ những tồn tại từ thực tiễn trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, quản lý xã hội đã bộc lộ ngày càng nhiều tồn tại, vướng mắc, bất cập mà xét đến cùng, do thiếu tư duy hệ thống và cái nhìn “hệ thống quan” trong xem xét, giải quyết vấn đề mà biểu hiện cụ thể thường được gọi là “có vấn đề về hệ thống” hay “lỗi hệ thống”. Nói khác đi, thiếu tính hệ thống trong tư duy hay kiểu tư duy “phi hệ thống” đã và đang tồn tại như một khiếm khuyết, cố tật trong cả lý luận và thực tiễn, nhất là trong quá trình hoạch định và thực thi chính sách công.

Do đó, để có cái nhìn đúng hơn về hệ thống và tư duy hệ thống, từ đó vận dụng nó vào xem xét, đánh giá, giải quyết vấn đề cần phải đặt ra như một nhiệm vụ cho người lãnh đạo, quản lý. Nói khác đi, người lãnh đạo, quản lý và các chủ thể hoạch định chính sách công cần phải ý thức, nhận thức được tư duy hệ thống trong hoạt động lãnh đạo, quản lý cũng như trong quá trình hoạch định, thực thi chính sách có liên quan, tránh (và hạn chế tối đa) hiện tượng “lỗi hệ thống”.

1. Tính chỉnh thể hệ thống và kiểu tư duy chỉnh thể

Phạm trù căn bản của tư duy hệ thống (Systems Thinking) là hệ thống (system) với đặc trưng cố hữu và trọng yếu của nó: tính chỉnh thể. Nói cách khác, muốn tìm hiểu và vận dựng tư duy hệ thống vào công tác lãnh đạo, quản lý thì cần phải xuất phát (và nắm vững) được khái niệm chỉnh thể, tính chỉnh thể. Ngay trong một số trước tác tác mình, Ludwig Von Bertalanffy (1901-1972) đã đưa ra một số thuật ngữ gắn tính chỉnh thể với hệ thống như “hệ thống và sản sinh chỉnh thể”, “lý giải chỉnh thể và hệ thống”, “khái niệm hệ thống và vận dựng vào chỉnh thể” [1].

Như vậy có thể thấy, hạt nhân của tư duy hệ thống là chỉnh thể và tính chỉnh thể (Integrity). Ở một giác độ nào đó mà nói, hệ thống là chỉnh thể và tư duy hệ thống là kiểu tư duy chỉnh thể. Điều này chỉ ra cho chúng ta một cách xem xét vấn đề, tuy không mới nhưng không phải là đã lỗi thời, đó là nhìn cái tổng thể, cái toàn cục, cái chung, cái chỉnh thể để xem xét, nhận thức, đánh giá và giải quyết vấn đề và các vấn đề cụ thể. Nói cách khác, tư duy hệ thống là phương thức tư duy xem xét vấn đề mang tính chỉnh thể, toàn cục, hữu cơ chứ không phải ở giác độ cục bộ, bộ phận, rời rạc, thiếu liên kết.

Vấn đề ở chỗ, tại sao trong thực tiễn từ quá trình lãnh đạo, quản lý, ra quyết định, hoạch định và thực thi chính sách… lại nảy sinh và tồn tại (tương đối phổ biến) hiện tượng “phi chỉnh thể”, “phi hệ thống” mà chúng ta thường gọi là tư duy phiến diện, hạn hẹp, “lỗi hệ thống”? Tại sao chúng ta thường nhìn nhận và giải quyết vấn đề lại tập trung vào các sự vụ, sự việc mang tính “độc lập”, “tách rời”? Tại sao vấn đề này vừa giải quyết xong lại, ngay lập tức, nảy sinh ra nhiều vấn đề khác phức tạp hơn, nan giải hơn? Tại sao có những chính sách ra đời nhằm giải quyết một vấn đề nào đó mà sau khi đi vào cuộc sống nó không những không thực hiện đúng mục tiêu của nó và hiệu quả mang lại không như mong đợi mà, ngược lại nó lại nảy sinh, phái sinh những vấn đề phức tạp hơn, nan giải hơn? Câu trả lời nằm ở chỗ tính chỉnh thể trong tư duy hệ thống: khi xem xét, đánh giá và giải quyết vấn đề thiếu (hoặc không chú trọng đến) tính chỉnh thể của hệ thống, xem xét mối tương quan giữa các bộ phận, các thành tố cấu thành nên hệ thống. Nói khác đi,  chưa quán triệt nguyên lý cơ bản của tư duy hệ thống.

Để hạn chế tối đa phương thức tư duy phiến diện, cục bộ thì phải ý thức được tính chỉnh thể của sự vật và hiện tượng – kiểu tư duy chỉnh thể. Nói cách khác, cần phải đứng trên quan điểm hệ thống để nhìn sự vật, có nhãn quan lý tính về mối quan hệ tương hỗ giữa các thành tố, bộ phận về mỗi sự vật, hiện tượng. Bởi đơn giản là, đã là một hệ thống thì luôn có kết cấu chỉnh thể, đặc tính chỉnh thể, chức năng chỉnh thể, nhu cầu chỉnh thể, trạng thái vận động chỉnh thể, mô thức hành vi chỉnh thể, chiếm hữu không gian chỉnh thể, phương hướng chỉnh thể,…

2. Tư duy phiến diện: nguyên nhân và hình thức biểu hiện

Bất luận là một cá nhân hay nhóm xã hội, trong những môi trường nhất định, điều kiện hiện hữu nhất định, luôn chịu chi phối bởi những tập quán, kinh nghiệm và phát sinh tư duy phiến diện khi xem xét hoặc đưa ra một quyết định để giải quyết một vấn đề nào đó. Điều này đã xuất hiện trong quá khứ, hiện tại vẫn hiện tồn và chắc chắn sẽ còn nảy sinh trong tương lai[2]. Điều không thể phủ nhận là, mặc dù có ý thức đến mấy con người vẫn chịu chi phối bởi yếu tố môi trường, yếu tố lịch sử, hệ giá trị, văn hóa, phong tục, tập quán, kinh nghiệm trong cách nhìn nhận, nhận thức, đánh giá vấn đề. Một khía cạnh khác, tại khởi điểm của quá trình nhận thức, việc lựa chọn vị trí hay giác độ quan sát sự vật, hiện tượng của chủ thể cũng sẽ ảnh hưởng lớn đến kết quả nhận thức.

Một ngộ nhận đáng tiếc trong phương thức nhận thức mà nhiều người đang vấp phải là, chia cái chỉnh thể thành nhiều bộ phận nhỏ có tính độc lập để phân tích, với mặc định rằng, chỉ cần nhận thức được các bộ phận ấy thì coi như đã nhận thức được toàn bộ chỉnh thể. Suy nghĩ này đã đánh đồng “quan hệ nhân quả” với “mạng lưới quan hệ nhân quả”. Cần hiểu rằng, mỗi bộ phận tổ thành trong một hệ thống luôn có sự tương tác với các bộ phận khác trong hệ thống đó không phải theo kiểu “từng cặp đôi” hay đơn chiều, mà nó tương tác theo kiểu mạng lưới đa chiều, đa biến. Do đó, tư duy “chia cái chỉnh thể” thành nhiều bộ phận độc lập để nhận thức, phân tích đã không đem lại cái nhìn tổng cục của vấn đề, và theo đó thì cũng giải quyết được triệt để các vấn đề nảy sinh, thậm chí đối với một số vấn đề, càng “ra sức” giải quyết thì càng nảy sinh nhiều hệ lụy và phát sinh nhiều vấn đề khác phức tạp hơn, nghiêm trọng hơn trước.

Cùng với sự phát triển thần tốc về khoa học công nghệ, sự phân công lao động xã hội theo hướng ngày một chuyên sâu hơn thì các vấn đề xã hội nảy sinh ngày càng phức tạp hơn, bất định hơn. Lúc này tư duy kiểu kinh nghiệm chủ nghĩa, cảm tính, trực giác là cần thiết nhưng không đủ để nhìn nhận, đánh giá vấn đề. Nói khác đi, rất cần tư duy hệ thống với những nguyên lý khoa học hết sức khắc khe: nhìn vấn đề ở giác độ đủ rộng (cả không gian và thời gian), nhìn vấn đề ở tính liên đới (liên đới khoa học, liên đới ngành nghề), nhìn vấn đề ở giác độ toàn cục (đa trục, đa chiều, đa diện).

3. Vận dụng tư duy hệ thống vào nhận thức, kiến giải và giải quyết vấn đề xã hội

Khi phải đối diện với việc giải quyết vấn đề thực tiễn nào đó (bao gồm vấn đề văn hóa, chính trị, quân sự, khoa học kỹ thuật, xây dựng Đảng…) chủ thể nhận thức thường bị chi phối bởi nhiều yếu tố như cách tiếp cận, kiến thức, môi trường, hoàn cảnh, kinh nghiệm, cảm xúc,… và chính nó ít nhiều ảnh hưởng đến quá trình nhận thức và ra quyết định. Do đó, yêu cần của tư duy hệ thống cần có cái nhìn tổng quan, chỉnh thể, chiến lược đối với mỗi vấn đề.

Một trong những yêu cầu cốt yếu của tư duy hệ thống là phải có các phương án mang tầm chiến lược trước khi tiến hành triển khai thực hiện một vấn đề nào đó, từ các phương án ấy sẽ tiến hành sàn lọc và lựa chọn phương án tối ưu và vạch ra những biện pháp thực hiện. Quy cho cùng, thực hiện những công việc chủ yếu gồm 3 loại sau: một là, những công việc có tính chất lặp đi lặp lại chẳng hạn như năm học mới nhưng dạy các chương trình giáo án cũ, một bản nhạc nhưng hát nhiều địa điểm khác nhau,… với loại công việc này chỉ cần sắp xếp một cách đơn giản là có thể tiến hành thực hiện; hai là, những loại công việc, nhiệm vụ đột ngột phát sinh mà không có tính toán trước được và cần phải có những nhận thức và ứng phó nhanh để biến cái bị động thành chủ động. Loại công việc này đòi hỏi phải trong một thời gian ngắn nhất phải đưa phương án giải quyết tối ưu nhất nhằm giảm thiểu những tổn thất mà vấn đề gây nên; thứ ba, loại công việc hay nhiệm vụ mang tính đại sự cần kinh qua một thời gian suy nghĩ đủ dài, đủ chính rồi mới đưa ra quyết định như chiến lược phát triển của một quốc gia về kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng; những quyết sách mang tầm chiến lược có tác động đến nhiều lĩnh vực trong đời sống xã hội như các chính sách về nông nghiệp, nông thôn, ngư nghiệp, chính sách tài chính, chính sách đầu tư,…Cả 3 loại công việc và nhiệm vụ trên đều cần tư duy hệ thống nhưng đáng chú ý là loại thứ 2 và thứ 3. Nếu vội vã, thiếu tính toán và cân nhắc dẫn đến hiện tượng “giải quyết tình huống” hay “nóng đâu phủi đấy” thì khó có thể giải quyết vấn đề một cách căn cơ, triệt để; các quyết sách đưa ra chỉ chắp vá, thiếu tính chỉnh thể, tính đồng bộ, thậm chí một số trường hợp lại phi tác dụng, phản tác dụng.

Từ tầng diện vi mô như một nhóm nhỏ, một công ty, một xí nghiệp hay một đơn vị, tổ chức đến tầng diện trung mô như một bộ phận, một khu vực, một vùng lãnh thổ, hay ở cấp độ vĩ mô như một dân tộc, quốc gia cho đến phạm vi toàn cầu, khi đưa ra những quyết định hay giải quyết một vấn đề nào đó đang nảy sinh thì cũng cần có cái nhìn hệ thống, toàn cục để xem xét từ các khâu nhận thức, phân tích, hoạch định, quyết định và thực thi. Nói khác đi, cần phải quán triệt tinh thần “toàn cục”, “chỉnh thể” để đạt được những kết quả và mục tiêu tối ưu một cách toàn diện.

Tuy nhiên, trong nhận thức, quá trình ra quyết định hay thực hiện những nhiệm vụ đặt ra luôn vướng phải mâu thuẫn giữa cái cục bộ và cái chỉnh thể. Lúc này cần phải đứng ở giác độ toàn cục để xem xét vấn đề (từ khâu nhận thức đến ra quyết định, kế hoạch thực hiện, biện pháp thực hiện và trình tự thực hiện), lấy kết quả tối ưu hóa toàn cục mà giải quyết cái bộ phận tổ thành liên quan. Cần phải nhận thức rằng, luôn có những mâu thuẫn và khác biệt giữa những bộ phận và chỉnh thể của nó về lợi ích, mục tiêu, điều kiện. Và hơn thế nữa, sự “tối ưu hóa” của từng bộ phận tổ thành của một hệ thống không phải bao giờ cũng mang lại tối ưu hóa cho cái toàn cục, cái chỉnh thể tạo ra nó (hay có quan hệ với nó).

Chính vì thế cần phải nắm và sử dụng một nguyên tắc là, xuất phát từ cái chỉnh thể, cái toàn cục mà sử dụng hợp lý các cục bộ, các bộ phận tổ thành nên nó. Chỉnh thể là do các bộ phận tổ thành và các bộ phận này không phải “rời rạc” mà liên hệ với nhau một cách hữu cơ từ đặc trưng, tính chất, mục tiêu, chức năng, hiệu ích. Và tính hiệu dụng của nó cần phải xem xét trong cái toàn cục, chỉnh thể mà nó là một bộ phận tổ thành. Quá trình tổ chức, sử dụng, chỉnh hợp các bộ phận tổ thành có hợp lý, hiệu quả và khoa học hay không phụ thuộc phần lớn vào tính chỉnh thể của nó. Nói cách khác, hiểu được các mối quan hệ chỉnh thể, toàn cục thì mới có thể sử dụng và điều chỉnh tốt các bộ phận tổ thành. Ngược lại, nếu không hiểu được tính toàn cục, tính chỉnh thể; không xuất phát từ tính chỉnh thể mà đi điều chỉnh và sử dụng cái cục bộ, bộ phận thì chắc chắn sẽ không lại kết quả đại cục.

Tóm lại, tư duy hệ thống là một loại mô thức, phương pháp tư duy khi xem xét, kiến giải, nhận thức hiện thực xã hội nói chung, các vấn đề xã hội nói riêng. Kiểu tư duy này lấy cái chỉnh thể, toàn cục làm hạt nhân. Trong quá trình nhận thức những vấn đề lý luận và thực tiễn, chủ thể nhận thức thường bị chi phối bởi nhiều yếu tố như kinh nghiệm, cảm tính, hoàn cảnh, tính cấp bách của vấn đề mà dễ rơi vào trường hợp “chỉ thấy cây mà không thấy rừng”, “xem cái bộ phận là cái toàn thể” từ đó dễ dẫn đến tình trạng “nóng đâu phủi đó”, “đau chỗ nào tiêm thuốc chỗ đó”,… Điều này không những không giải quyết tận căn vấn đề (toàn cục, chỉnh thể) mà, nhiều trường hợp, phái sinh những hệ lụy hết sức đáng tiếc. Chính lẽ đó, phương pháp tiếp cận hệ thống sẽ là ánh sáng soi đường cho quá trình nhận thức cũng như ra quyết định. Đặc biệt, trong việc giải quyết các vấn đề xã hội như ô nhiễm môi trường, đói nghèo, tội phạm, phát triển kinh tế-xã hội, phát triển du lịch,… ánh sáng của tư duy hệ thống sẽ giúp khắc phục được cái nhìn phiến diện, chủ quan, cục diện và chỉ ra cho chúng ta cái nhìn khoa học hơn trong nhận thức và hành động.

TS. PHẠM ĐI



[1] Xem: Ludwig Von Bertalanffy (1901-1972), General System Theory: Foundations, Development, Applications, University of Alberta Edmonton, Canada. George Braziller, New York 1969.

[2] Trong kho tàng ca dao tục ngữ, thành ngữ và cả những câu chuyện ngụ ngôn của Việt Nam cũng không thiếu những “minh họa” cho vấn đề này như: “ếch ngồi đáy giếng”, “thấy cây không thấy rừng”, “thầy bói xem voi”, “chân, tay, tai, mắt, miệng”,…

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

PHẦN TẦNG XÃ HỘI: NỘI DUNG, BẢN CHẤT, TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN VÀ VẬN DỤNG VÀO THỰC TIỄN CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY

GIA ĐÌNH VÀ CHỨC NĂNG CỦA GIA ĐÌNH

CƠ CẤU DÂN SỐ THEO GIỚI TÍNH, ĐỘ TUỔI VÀ PHÂN BỐ DÂN CƯ