“XÃ HỘI” LÀ GÌ?
“XÃ
HỘI” LÀ GÌ?
Trong đời sống thường
nhật hay trong ngôn ngữ nghiên cứu chúng ta đều bắt gặp từ “xã hội” với một tần
xuất khá cao[1].
Thế nhưng, không phải ai cũng hiểu một cách đầy đủ về nội hàm và ngoại diên của
khái niệm này. Tùy trường hợp cụ thể, không gian cụ thể, mục đích cụ thể mà người
ta sử dụng từ “xã hội” với những hàm nghĩa không giống nhau, thậm chí có lúc
trái chiều nhau. Có lúc người ta đánh đồng nội hàm của “xã hội” với “cộng đồng”
(“xã hội nông thôn”, “cộng đồng nông thôn”…). Có lúc người ta dùng “xã hội” như
hàm nghĩa “nhà nước” (“xã hội Việt Nam”, “xã hội Mỹ”…). Có lúc lại dùng “xã hội”
thay thế cho hình thái phát triển lịch sử loài người (“xã hội công nghiệp”, “xã
hội truyền thống”, “xã hội phong kiến”, “xã hội tư bản”…). Có lúc xem nội hàm của
“xã hội” như một kiểu kết cấu xã hội đặc thù (“xã hội chuyên chế”, “xã hội dân
chủ”…). Cũng có người xem “xã hội” như một không gian đặc thù trong các lĩnh vực
của đời sống như gia đình, trường học và xã hội…
Tìm hiểu từ giác độ
từ ngữ, xã hội trong tiếng Anh gọi là “society” có nguồn gốc từ “socius” có
nghĩa là bạn bè, người đồng hành; society có nghĩa là đoàn thể, hội nhóm, nhóm
người [2]...
Khi giải thích về xã hội, nhà xã hội học H. Spencer cho rằng, xã hội cũng giống
như một cơ thể sinh vật; nhà xã hội người Pháp J. G. Tarde[3] lại có ý kiến: xã hội là tập hợp người có cùng
chung đặc điểm tâm lý, là nhóm người học hỏi, tương tác nhau; theo quan điểm của
nhà xã hội học người Mỹ R. E. Park[4]
thì, xã hội là một di sản nhân loại trong đó bao gồm những hành vi, tập quán,
tình cảm, tục lệ v.v.; đối với E. Durkheim, xã hội chính là ý thức tập thể, là
thực thể độc lập trên nền tảng ý thức của cá nhân,...
Từ những dẫn chứng
trên cho thấy, khái niệm “xã hội” tưởng là đơn giản nhưng từ góc độ khoa học
nhìn nhận, không hề giản đơn như vậy mà, bằng chứng là, ngay chính các học giả
có tên tuổi cũng có cách hiểu khác nhau về nội hàm của nó. Khái niệm “xã hội”
nhằm để miêu tả những đối tượng phi vật chất, chỉ có thể dùng cảm giác của ý thức
và sự lĩnh hội để đạt được một thực tại khách quan. Thế nhưng, mặt khác xã hội
lại không thể tách rời những tồn tại và vật chất cụ thể. Trong những năm gần
đây, các nhà xã hội học phương Tây đã chỉ ra hai cách hiểu (và là 2 quan điểm
khác nhau) về xã hội: một là, khi tiến
hành nhận thức các hiện tượng, sự kiện xã hội con người luôn luôn thông qua các
hoạt động có ý thức, do đó, xem xã hội là sản phẩm sáng tạo từ ý thức con người,
khế ước xã hội chính là một đại diện cho quan điểm này; hai là, trực quan để nhìn nhận vấn đề, xem xã hội chính là con người,
tư tưởng của họ và những sản phẩm của họ (máy móc, nhà cửa, cơ sở vật chất
khác).
Giới xã hội học
phương Tây đã từng xảy ra những tranh cãi trong một thời gian dài về vấn đề
quan hệ giữa cá nhân và xã hội, từ đó hình thành hai trường phái đối lập: trường phái duy danh xã hội và trường phái
duy thực xã hội[5].
Thực chất của những tranh luận này là đi tìm trả lời câu hỏi: “xã hội” cuối
cùng có tồn tại trên thực tế không? Khái niệm “xã hội” là một kiểu phản ứng của
thực tại hay chỉ là một cách nói khái quát để chỉ những gì tồn tại mà tồn tại
đó có hàm ý là đối lập với nội hàm của khái niệm cá nhân? A. Comte, H. Spencer,
E. Durkheim và nhiều nhà xã hội học hiện đại ở phương Tây đều thuộc trường phái
duy thực xã hội. Họ cho rằng “xã hội” là cái tồn tại hiện thực. Những nhà xã hội
học chịu ảnh hưởng tư tưởng triết học của Wilhelm Dilthey[6]
và Immanuel Kant đều thuộc trường phái duy danh xã hội mà trong đó M.
Weber, G.Tarde, E. W. Burgess (1886-1966) là những nhân vật đại diện. Họ cho rằng,
chân thực không phải là xã hội và là những con người cụ thể và đơn lẻ, “xã hội”
chỉ là một khái niệm hoặc danh xưng mà thôi, là một cách gọi hàm chỉ một “đoàn
thể” với tư cách đối lập với cá nhân.
Từ bản chất nhìn
nhận, người theo trường phái duy thực xã hội cho rằng, “xã hội”, bản thân nó,
có tính chất thực tại độc lập, đồng thời không thể quy về cá nhân. Ngược lại,
trường phái duy danh xã hội thì cho rằng “xã hội” gồm những cá nhân có ý nghĩa
độc lập tổ thành nên, khái niệm “xã hội” chẳng qua là do con người “đặt cho”,
do đó khi lý giải xã hội cần phải xuất phát từ sự giải thích sự tồn tại của mỗi
cá nhân. Trên bình diện xã hội học, E. Durkheim lại cho rằng, đối tượng nghiên
cứu của xã hội học chính là “sự thật xã hội” cũng đồng nghĩa với việc xã hội học
là môn khoa học xã hội có tư cách khác biệt và độc lập với triết học; nhưng sự
thật xã hội luôn tồn tại bên ngoài ý thức con người, đồng thời có thể tác động,
ảnh hưởng đến ý thức và hành vi của cá nhân. Sự thật xã hội với tư cách là một
“vật” và có đặc trưng cao hơn, vượt qua ý nghĩa của cá nhân; để nắm được và giải
thích về ý thức xã hội thì không thể chỉ sử dụng phương pháp của sinh lý học
hay tâm lý học hành vi mà còn cần phải sử dụng phương pháp xã hội học. Trong
tác phẩm “Giải thích xã hội học” của mình, M. Weber nhận định, cá nhân là chủ
thể chân thực nhất của hành động xã hội, khi nắm được động cơ hành động của cá
nhân thì mới có thể giải thích được “ý nghĩa chủ quan” của xã hội. Theo cách lý
giải của M. Weber thì xã hội học là khoa học nghiên cứu về hành động xã hội.
Khoa học là cần phải lý giải hành vi, hành động của con người và đồng thời, từ
góc độ xã hội để giải thích, lý giải các hành động xã hội đó. Từ hai đại diện của
trường phái duy danh xã hội và duy thực
xã hội là E. Durkheim và M. Weber đã hình thành nên hai cách nhìn xã hội “tổng
thể” và “cá nhân”. Trường phái “tổng thể” lấy duy thực làm căn cứ và cho rằng,
nên xuất phát từ hệ thống để giải thích cái bộ phận, dùng một sự thật xã hội
này để lý giải một sự thật xã hội khác có liên quan; ngược lại, trường phái “cá
nhân” thì cho rằng hiện tượng xã hội chỉ có thể thông qua hành động cá nhân mới
có thể giải thích được, hành động của cá nhân không nhất thiết (và không cần thiết)
dùng hiện tượng xã hội để lý giải. Như vậy, xét về bản thể luận có hai trường
phái là duy danh và duy thực; về phương pháp luận thì chia làm “tổng thể” và
“cá nhân”; về quan niệm giá trị có thể chia thành “chủ nghĩa tập thể” và “chủ
nghĩa cá nhân”. Trường phái duy danh xã hội nhấn mạnh đến tính “tập thể” và coi
lợi ích tập thể cao hơn lợi ích cá nhân, cá nhân cần phải phục tùng tập thể;
trường phái duy thực xã hội lại cho rằng, tự do cá nhân mới thực sự là giá trị
tuyệt đối.
Thế nhưng, quan hệ
giữa cá nhân và xã hội, xét trên bình diện bản thể luận, phương pháp luận, quan
niệm giá trị đều tồn tại hai quan điểm khác biệt nhau mà đôi khi khó có thể giải
thích một cách cụ thể mà nguyên nhân chủ yếu là cả hai quan điểm này đều không
thể khắc phục được nhược điểm tự thân, và hơn nữa cũng không có cách nào để phủ
nhận tính hợp lý của quan điểm đối lập. Quan điểm về xã hội của trường phái duy
thực nhấn mạnh đến tính thực tại của bản thân xã hội mà lại xem nhẹ một nhân tố
hết sức quan trọng đó là kết cấu xã hội với tính chất năng động của cá nhân,
như vậy cũng có thể nói, về vấn đề quan hệ giữa cá nhân và xã hội, trường phái
duy thực xem xã hội hoàn toàn độc lập với cá nhân và đồng thời cũng cho rằng, nếu
nhấn mạnh vai trò của cá nhân trong xã hội là một khiếm khuyết. Song song với
đó, trường phái duy danh cũng có nhiều hạn chế đáng kể: quá nhấn mạnh đến tính
tự chủ của cá nhân và đồng thời cũng xem nhẹ tính thực tại khách quan của xã hội.
Trên thực tế, bất luận trường phái duy danh hay duy thực, đều không đủ chứng cứ
để đưa ra luận cứ căn bản mang tính nền tảng về xã hội trong mối quan hệ giữa
cá nhân và xã hội. Về mặt phương pháp luận mà nói thì cái “chỉnh thể” và “cá thể”
đều rơi vào tình huống không lối thoát. Đối với “cá thể” mà nói, trên quan niệm
chỉnh thể, đã có phương thức tư duy theo kiểu phân tích và lập trường của cái
“giản lượt” từ đó mà “mất đi” ý nghĩa của xã hội; đối với “chỉnh thể” mà nói,
những người theo quan điểm cá thể hóa đã đứng trên lập trường phi xã hội hóa và
quyết định luận xã hội mà mắc phải sai lầm “hình ảnh hóa” đối tượng. Do đó, để
làm rõ hơn vấn đề này, chúng ta cần xem xét quan niệm của K. Marx về xã hội.
Theo quan điểm của
K. Marx, xã hội được hình thành từ nền tảng của sự tương tác giữa các cá nhân,
là một hệ thống các mối quan hệ xã hội trong một giai đoạn phát triển của lịch
sử. K. Marx cho rằng, khi nghiên
cứu về xã hội cần “Xuất phát từ
những con người đang hành động, hiện thực
và
chính là cũng xuất phát từ quá trình đời sống hiện thực của họ”[7].
“Tiền đề đầu tiên của mọi sự tồn tại của con người, và do đó là tiền đề của mọi
lịch sử, đó là: người ta phải có khả năng sống đã rồi mới có thể “làm ra lịch sử”.
Nhưng muốn sống được thì trước hết cần phải có thức ăn, thức uống, nhà ở, quần
áo và một vài thứ khác nữa. Như vậy, hành vi lịch sử đầu tiên là việc sản xuất
ra những tư liệu để thoả mãn những nhu cầu ấy, việc sản xuất ra bản thân đời sống
vật chất. Hơn nữa, đó là một hành vi lịch sử, một điều kiện cơ bản của mọi lịch
sử mà (hiện nay cũng như hàng nghìn năm về trước) người ta phải thực hiện hàng
ngày, hàng giờ, chỉ nhằm để duy trì đời sống con người”. Hành vi đầu tiên của lịch
sử con người là hành vi sản xuất và tái sản xuất ra của cải vật chất, trên cơ sở
đó nảy sinh các hành vi sản xuất và tái sản xuất ra đời sống tinh thần, sản xuất
và tái sản xuất ra con người cùng các quan hệ xã hội của nó.
Khi phân tích bản
chất xã hội, K. Marx đã không bị chi phối bởi các hiện tượng xã hội mà lấy quan
hệ sản xuất vật chất làm hạt nhân. Theo K. Marx, sản xuất vật chất là cơ sở của đời sống
xã hội, phương thức sản xuất quyết định quá
trình sinh hoạt chính trị và
đời sống tinh thần nói chung. Xã hội là một hệ thống cấu trúc phức tạp, gồm các
yếu tố cơ bản là lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất, kiến trúc thượng tầng.
Các yếu tố đó có tác động qua lại với nhau một cách biện chứng.
Tóm lại, quan niệm của K. Marx về xã hội thể hiện
bởi các bình diện chủ yếu sau: (1) Xã hội là hệ thống tương tác giữa con người
với con người. Trong quá trình
tương tác đó tất yếu hình thành nên một quan hệ xã hội nhất định đồng thời
thông qua quan hệ xã hội này để thực hiện các tương tác xã hội. (2) Hệ thống
các quan hệ tương tác, đơn giản mà nói, trên thực tế chính là các quan hệ xã hội,
mà trong đó quan hệ sản xuất là quan hệ chủ yếu, quyết định đến các quan hệ
khác đồng thời quyết định đến đặc trưng cơ bản của xã hội. (3) Quá trình phát
triển và chuyển biến của các quan hệ xã hội biểu hiện tính giai cấp và tính lịch
sử; phát triển xã hội là biểu hiện của quá trình lịch sử tự nhiên. Trong quá
trình lịch sử này, K. Marx đã dùng khái niệm hình thái xã hội để làm rõ nội hàm
và chỉ ra lịch sử phát triển xã hội là một quá trình lịch sử đi từ xã hội
nguyên thủy, xã hội nô lệ, xã hội phong kiến, xã hội tư bản và xã hội chủ
nghĩa, và như thế chủ nghĩa Cộng sản là sự phát triển tất yếu trong lịch sử
nhân loại.
TS. Phạm Đi
(Tham kiến: Phạm Đi, Xã hội học với Lãnh đạo, quản
lý, Nxb. Thông tin và Truyền thông, 2020)
[1] Khi dùng công cụ tìm kiếm trên
google với cụm từ “xã hội” (tiếng Việt) thì có khoảng 231.000.000 kết quả; từ
“Social” có kết quả 20.610.000.000; từ “Society” có kết quả là 4.890.000.000. Với
công cụ tìm kiếm Baidu của Trung Quốc (công cụ tìm kiếm lớn nhất và phổ biến nhất
của Trung Quốc) thì kết quả tìm được cụm từ “社会” là khoảng 100.000.000 (thời gian thực hiện tìm
kiếm thử này là ngày 15 tháng 3 năm 2020). Ngay trong Văn kiện Đại hội Đại biểu
toàn Quốc lần thứ XII của Đảng ta thì cụm từ “xã hội” (bao gồm cả cụm từ kinh tế-xã
hội, chính trị-xã hội, văn hóa-xã hội, an sinh xã hội,...) có tần số xuất hiện
khoảng hơn 640 lần.
[2] Cambridge Dictionary thì “society”
là: một nhóm lớn những người sống với nhau một cách có tổ chức, cùng đưa ra quyết
định về phương thức chia sẻ công việc. Những người trong một quốc gia, hoặc tương
tự như một quốc gia, có thể được gọi là một xã hội. https://dictionary.cambridge.org/vi/dictionary/english/society
[3] Jean Gabriel Tarde (1843-1904): nhà xã hội
học, tâm lý học, thống kê học, tội phạm học người Pháp, tác phẩm “Triết học
hình sự” của ông được nhiều nhà nghiên cứu đánh giá cao.
[4] Robert Ezra Park (1864-1944): nhà xã hội
học người Mỹ, một trong những nhân vật đại diện cho trường phái Chicago (xem
Trường phái Chicago ở phần trên).
[5] Còn có cách gọi khác là “chủ nghĩa định
danh” và “chủ nghĩa hiện thực”. Tiếng Anh: Social Nominalism và Social Realism.
[6] Wilhelm Dilthey (1833 – 1911): Nhà sử học,
triết học Đức.
[7] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, T.3,
Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội
1995,
tr.37-38.
Nhận xét
Đăng nhận xét