THAY ĐỔI TRONG CẤU TRÚC GIA ĐÌNH TRONG XÃ HỘI CÔNG NGHIỆP

 

THAY ĐỔI TRONG CẤU TRÚC GIA ĐÌNH TRONG XÃ HỘI CÔNG NGHIỆP

Biến đổi trong thiết chế gia đình là một trong những chủ đề nghiên cứu về biến đổi xã hội nói chung, về biến đổi cấu trúc gia đình nói riêng. Những biến đổi này chịu tác động của nhiều yếu tố nhưng bản thân nó, sự biến đổi trong cấu trúc gia đình, lại tác động đến nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Sau đây là một số biến đổi cơ bản nhất trong cấu trúc gia đình hiện nay:

- Suy giảm số lượng thế hệ trong gia đình. Trong xã hội truyền thống thì gia đình với cấu trúc “tam, tứ đại đồng đường” không có gì hiếm, nếu không muốn nói là phổ biến. Khái niệm “đại gia đình” đã tồn tại một thời gian dài trong lịch sử gia đình Việt Nam cả nghĩa đen (gia đình nhiều thế hệ, có số lượng thành viên lớn) và cả nghĩa bóng (sự gắn bó, đoàn kết, chia sẻ của các thành viên). Hiện tượng “ra riêng” (con cái sau khi kết hôn mong muốn dọn ra ở riêng – có nhà riêng, ăn cơm riêng, có thu nhập riêng,..) ngày xưa là rất hiếm (thậm chí mới kết hôn mà “đòi” ra riêng là biểu hiện của sự bất hiếu). Thế nhưng, trong xã hội công nghiệp-đô thị hiện nay, nhiều thế hệ sống trong một gia đình giảm đi rõ rệt, các “đại gia đình” được phân nhỏ thành các mô hình gia đình nhỏ[1], chỉ gồm hai thế hệ là bố mẹ và con cái.

- Số lượng thành viên giảm xuống. Trong một xã hội nông nghiệp, khi gia đình là một đơn vị kinh tế độc lập thì rất cần lực lượng lao động. Một đứa trẻ cũng có thể gia tham vào quá trình sản xuất miễn là “tùy theo sức của mình”, do đó, việc “có thêm con cái” không những là nhu cầu vật chất (thêm sức lao động) mà còn là yếu tố tinh thần, phúc đức, phồn thực (“Hào con thì hào của”, “Đông con hơn nhiều của”, “Nó lại chúc nhau sự lắm con, sinh năm đẻ bảy được vuông tròn”, “Nhiều con giòn mẹ”,…). Trong xã hội công nghiệp-đô thị, với cơ cấu ngành nghề đã thay đổi, quan niệm của con người cũng đổi thay, quan niệm về “đường con cái” cũng chuyển biến mạnh mẽ; gia đình không còn là đơn vị sản xuất độc lập, nhu cầu “sức lao động” gắn với số lượng con cái không còn phù hợp; tính cơ động đòi hỏi mô hình gia đình nhỏ, số lượng thành viên ít. Do đó, xuất hiện hiện tượng “lười sinh đẻ” trong xã hội[2]. Chính vì thế mà Alvin Toffler đã nhận định: “Nền công nghiệp yêu cầu số đông công nhân sẵn sàng và có thể di chuyển theo công việc, và di chuyển nhanh khi cần thiết. Như thế đại gia đình bỏ dần những phụ tải và cái gọi là gia đình hạt nhân nổi lên, một gia đình di chuyển được chỉ gồm cha mẹ và vài đứa con. Kiểu gia đình này cơ động hơn gia đình cổ truyền, trở thành mô hình chuẩn trong tất cả các nước công nghiệp[3].

- Xung đột giữa các thành viên, giải thể hôn nhân có chiều hướng gia tăng. Nếu như ngày xưa, những câu nói như “Thuận vợ thuận chồng tát bể Đông cũng cạn”, “Chồng giận thì vợ bớt lời, cơm sôi bớt lửa, biết đời nào khê”; “Chồng ta áo rách ta thương, chồng người áo gấm xông hương mặc người” , “Gái thương chồng, đương đông buổi chợ, Trai thương vợ, nắng quái chiều hôm”, “Đạo vợ, nghĩa chồng”,… đã trở thành quan điểm hôn nhân (thậm chí là quan niệm sống) của nhiều cặp vợ chồng, thì nay “tính nhường nhịn” đôi khi trở thành điều xa xỉ. Bằng chứng là, theo khảo sát trên 1.500 người của Viện Nghiên cứu xã hội, kinh tế và Môi trường (iSEE) tiến hành trong tháng 5 và tháng 6/2015, gia đình Việt Nam đang đối mặt với một số vấn đề như xung đột, bất hòa giữa các thành viên trong gia đình (27,5%), ngoại tình (16%), nợ quá khả năng chi trả (9,9%) và các vấn đề khác. Đặc biệt, tình trạng ngoại tình được phụ nữ cảm nhận nghiêm trọng hơn nam giới. Cứ 10 chị em thì có hai người cảm thấy đây là vấn đề trong gia đình mình, trong khi con số này ở nam giới chỉ khoảng 1/10.

Bên cạnh đó, cách xưng hô giữa các thành viên cũng đã thay đổi lớn. Trước đây, các thế hệ sống chung dưới một mái nhà với các mối quan hệ như: ông bà, cha mẹ, ông bà, cháu, cha mẹ, con cái, anh chị em với nhau... với cách xưng hô tương ứng đã tạo nên một lối hành xử bất thành văn nhưng được đảm bảo thực hiện bằng bổn phận và trách nhiệm của nhau trong một gia đình họ hàng dòng tộc. Ngày nay, trong quan hệ vợ chồng đã có sự thay đổi trong cách xưng hô: đại từ dùng để xưng hô  phong phú và đa dạng hơn, đôi khi còn mang tính tuỳ tiện, thiếu chuẩn mực như “tôi-ông/bà”, “mày-tao”, “oan gia”, “sư tử Hà Đông”,... Vợ chồng sau một hồi khẩu chiến đã trút hết các “mỹ từ” lên nhau, công khai chỉ trích nhau ngay trước mặt con cái mà không nghĩ rằng những từ ngữ đó sẽ in đậm trong đầu óc của những đứa con sau này. Quan hệ cha mẹ, con cái, anh em còn phức tạp hơn – gọi nhau là “mày, tao; đồ này, đồ nọ...”. Chính ngôn từ đó đã làm cho trẻ khi ra ngoài xã hội, khi ứng xử đã trở nên thiếu tính mềm mỏng, thô lỗ, cục cằn và chống đối.

Tất cả những “thay đổi” đó kéo theo một hệ quả tất yếu: tỷ lệ ly hôn tăng cao. Thống kê của ngành tòa án cho thấy, nếu năm 2000 chỉ có 51.361 vụ thì năm 2005 đã tăng lên 65.929 vụ; đến năm 2010, con số này lên tới 126.325 vụ. Theo thống kê, 1-7-2008 đến ngày 31-7-2018, Tòa án nhân dân các cấp đã thụ lý theo thủ tục sơ thẩm 1.422.067 vụ án ly hôn, giải quyết 1.384.660 vụ, đạt tỷ lệ 97,4%, còn lại 37.407 vụ đang trong quá trình giải quyết.  Trong số 1.384.660 vụ án ly hôn Tòa án đã giải quyết, có 1.060.767 vụ xuất phát từ nguyên nhân bạo lực gia đình như: bị đánh đập, ngược đãi; vợ hoặc chồng nghiện ma túy, rượu chè, cờ bạc; ngoại tình (chiếm 76,6% các vụ án ly hôn)[4]

Hơn nữa, theo một số thống kê, tỷ lệ phụ nữ làm đơn ly hôn cao gấp 2 lần so với đàn ông, sức chịu đựng trung bình của một người phụ nữ trong một cuộc hôn nhân trước khi ly hôn là khoảng 9 năm. Vì vậy, đây chắc hẳn là một hồi chuông cảnh tỉnh đối với đàn ông Việt Nam. Người tốt nghiệp đại học, cao đẳng có tỷ lệ ly hôn từ 1,7- 2%, thấp hơn tỷ lệ 4- 6% của người không có bằng cấp. Số năm sống trung bình trước khi ly hôn của các cặp vợ chồng 18- 60 tuổi là 9,4 năm; còn riêng ở các khu vực nội thành, các thành phố lớn, chỉ 8 năm. Có 4 nguyên nhân thường xảy ra nhiều là: Mâu thuẫn về lối sống: (chiếm 27,7%); ngoại tình (25,9%); kinh tế (13%); bạo lực gia đình (6,7%)[5].

Có thể nói, bức tranh về tình trạng ly hôn không mấy sáng sủa là những “dự báo” cho các vấn đề liên quan đến gia đình và những hệ lụy của nó. Giải thể hôn nhân hay ly hôn chẳng những là “vấn đề cá nhân” mà còn là “vấn đề xã hội”. Điều này thể hiện ở sự rạn nứt trong các mối quan hệ (cha mẹ với nhau; cha mẹ với con cái,…) và từ đó nảy sinh các vấn đề về giáo dục trẻ em, vấn đề tội phạm, vấn đề về chuẩn mực đạo đức xã hội,…

- Thay đổi về vai trò, vị thế của các thành viên. Nếu như trong gia đình truyền thống thì “Chồng chúa, vợ tôi” thể hiện quan hệ thứ bậc giữa vợ và chồng; “Chồng cái đó, vợ cái hom” thể hiện chức năng “thu nhập-chi tiêu” và vai trò “kinh tế”của chồng và vợ trong gia đình; “Đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm” thể hiện vai trò giữ gìn hạnh phúc gia đình của các thành viên; “Cha mẹ đặt đâu con ngồi đó” là sự quyết định của cha mẹ đối với con cái về vấn đề tình yêu, hôn nhân, gia đình,…Dù sao thì người đàn ông trong gia đình vẫn thể hiện vai trò trụ cột, vị thế làm chủ gia đình, người phụ nữ đóng vai trò việc bếp núc, nữ công gia chánh theo kiểu “phu xướng phụ tùy”

Ngày nay, nữ giới đã được tham gia nhiều hoạt động. Tỷ lệ nữ tham chính cũng ngày một tăng. Nam giới cũng sẵn sàng chia sẻ công việc gia đình với người phụ nữ. Địa vị giữa các thành viên trong gia đình trở nên dân chủ, bình đẳng là một trong những thay đổi tích cực trong mối quan hệ gia đình Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên, gia đình Việt vẫn đang đối mặt với một số vấn đề như quy mô thay đổi, tỷ lệ ly hôn tăng nhanh như đã đề cập.

Ngoài ra, hiện nay các bậc cha mẹ đã có sự tôn trọng quyền tự do cá nhân của con cái thể hiện ở việc trao quyền cho con cái trong các quyết định hôn nhân và lựa chọn nghề nghiệp chứ không còn nặng nề như trước. Điều này cũng thể hiện sự thay đổi đáng kể trong việc lựa chọn các khuôn mẫu ứng xử trong gia đình.

- Kỹ thuật sinh sản mới đe dọa đến mức độ ổn định trong cấu trúc gia đình.

Khoảng vài thập niên trở lại đây, nhất là vài năm gần đây khoa học đã đạt được những bước tiến vượt bậc trong lĩnh vực hỗ trợ sinh sản. Thành tựu của khoa học là ghi nhận nhưng một khi nó đã vượt qua phòng thí nghiệm và ứng dụng rộng rãi vào đời sống xã hội thì xuất hiện những mặt tiêu cực, chí ít là trong phương thức sinh sản và cấu trúc gia đình. Việc sinh con trong ống nghiệm, việc thành lập các ngân hàng tinh trùng để cấy ghép phôi thai, việc (cho phép và kỹ thuật đi kèm) giúp mang thai hộ,… là những tiến bộ của khoa học công nghệ, nhưng đã phát sinh nhiều vấn đề xã hội hết sức phức tạp. Hiện nhiều cặp vợ chồng đã “chọn” phương pháp và kỹ thuật sinh con mới. Điều này không sai nhưng chí ít tác động đến vai trò thiêng chức, kéo theo sự “ích kỷ” của con người; kỹ thuật mang thai hộ có thể khiến cho nhiều người lạm dụng và không muốn sinh con “trực tiếp” mà thông qua “dịch vụ”. Điều này sẽ tác động và nảy sinh các vấn đề xã hội sau này như tình thân, tình máu mủ, vai trò chăm con, tranh chấp con cái,….

- Hình thành các quan điểm mới về gia đình. Thế hệ thanh niên hiện nay, đặc biệt tại các quốc gia phát triển đã xuất hiện các luồng tư tưởng làm ảnh hưởng đến cấu trúc gia đình. Ví dụ: tôn thờ chủ nghĩa độc thân; muốn có con mà không muốn lập gia đình; lập gia đình nhưng không muốn sinh con[6]. Các kiểu gia đình chưa từng có trong quá khứ đã xuất hiện làm “ngỡ ngàng” cho nhiều nhà nghiên cứu như “mô hình 4C”: kiểu gia đình đoàn thể (Corporate family), kiểu gia đình ráp nối (Concatenated family), kiểu gia đình tập hợp (Collectied family), kiểu gia đình chu kỳ (Cyclical family)[7].

Những quan điểm mới mẻ, cởi mở, thậm chí khá dễ dãi trong quan hệ tình dục (trước và sau hôn nhân; trong và ngoài hôn nhân). Các quan điểm như: “tách tình dục khỏi tình yêu”, “tách hôn nhân khỏi tình yêu”, “tách sinh sản khỏi gia đình”, “tách hôn nhân khỏi pháp luật”, “tách sinh đẻ ra khỏi phụ nữ” đã dần lan sang các nước châu Á, trong đó có Việt Nam. Theo quan sát, mặc dù có phần “dè dặt” nhưng lớp thanh niên Việt Nam đã bắt đầu “tiếp nhận” những quan niệm này như một sự đồng tình.

TS. Phạm Đi

(Tham kiến: Phạm Đi, Xã hội học với Lãnh đạo, quản lý, Nxb. Thông tin và Truyền thông, 2020)

 



[1] Cả nước hiện có hơn 24 triệu hộ gia đình, trong đó quy mô gia đình nhỏ (có 2-4 người) là phổ biến nhất (chiếm gần 65%), còn rất ít hộ trên 7 người. Số hộ độc thân chiếm tỷ trọng nhỏ (8%) nhưng đang có xu thế tăng nhanh trong 5 năm trở lại đây. Xem: Những thay đổi vừa đáng mừng vừa "đáng sợ" của gia đình Việt http://giadinh.net.vn/gia-dinh/nhung-thay-doi-vua-dang-mung-vua-dang-so-cua-gia-dinh-viet-20160627234053064.htm  (cập nhật ngày 13-01-2020)

[2] Tổng tỷ suất sinh ở thành thị là 1,84 con/người, nông thôn là 2,22 con/người. Mô hình sinh vẫn tiếp tục chuyển từ sinh “sớm” sang sinh “muộn”, thể hiện ở khuynh hướng phụ nữ sinh con đầu lòng ở độ tuổi muộn hơn, khu vực thành thị tập trung ở độ tuổi từ 25-34, nông thôn là 20- 29. (nguồn: như trên)

[3] Alvin Toffler, Cú sốc tương lai. Nbx Thông tin lý luận, H.1992, tr.81 (Nguyễn Văn Trung dịch).

[4]Báo SGGP, Hơn 1 triệu vụ ly hôn trong 10 năm gần đây có nguyên nhân là bạo lực gia đình. Xem: https://www.sggp.org.vn/hon-1-trieu-vu-ly-hon-trong-10-nam-gan-day-co-nguyen-nhan-la-bao-luc-gia-dinh-562012.html . Cập nhật ngày 2-2-2020.

[5] Xem: Những thay đổi vừa đáng mừng vừa "đáng sợ" của gia đình Việt http://giadinh.net.vn/gia-dinh/nhung-thay-doi-vua-dang-mung-vua-dang-so-cua-gia-dinh-viet-20160627234053064.htm  (cập nhật ngày 13-01-2020)

[6] Kiểu gia đình DISK tế  (Double Income, No Kids) đã xuất hiện ở nhiều quốc gia trên thế giới: Cả hai vợ chồng đều có thu nhập nhưng sau khi kết hôn tự “hợp đồng” là không sinh con, bởi chính quá trình sinh con đã “lấy” đi của họ cơ hội thanh xuân, gây phiền hà và cản trở đời sống cá nhân của mỗi người.

[7] Charles L. Jones và các tác giả, Tương lai của gia đình (Vũ Quang Hà dịch), Nxb Đại học Quốc gia Hà nội. H2002, tr296-304.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

PHẦN TẦNG XÃ HỘI: NỘI DUNG, BẢN CHẤT, TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN VÀ VẬN DỤNG VÀO THỰC TIỄN CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY

GIA ĐÌNH VÀ CHỨC NĂNG CỦA GIA ĐÌNH

CƠ CẤU DÂN SỐ THEO GIỚI TÍNH, ĐỘ TUỔI VÀ PHÂN BỐ DÂN CƯ