QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA XÃ HỘI HỌC VÀ VAI TRÒ CỦA XÃ HỘI HỌC TRONG HOẠT ĐỘNG LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ
QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA XÃ HỘI HỌC VÀ VAI TRÒ CỦA XÃ HỘI HỌC TRONG HOẠT
ĐỘNG LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ
1.1. Bối
cảnh lịch sử của việc ra đời xã hội học
Với tư cách là một
khoa học, quá trình hình thành và khẳng định vị thế của xã hội học cũng trải
qua những bước thăng trầm. Nói cách khác, sự “tiến hóa” của xã hội học là một
quá trình lịch sử hết sức thú vị. Đa số các nhà xã hội học trên thế giới đều
cho rằng xã hội học ra đời vào những năm 30 của thế kỷ XIX , khi mà lần đầu
tiên Auguste Comte[1] đề xuất khái niệm “xã hội học” và, thuật ngữ “xã
hội học” chính thức có mặt trong hệ thống từ vựng của khoa học xã hội.
Vào cuối thế kỷ
XVIII đầu thế kỷ XIX, sự phát triển thần tốc của Chủ nghĩa Tư bản châu Âu đã bộc
lộ và nảy sinh nhiều vấn đề xã hội phức tạp. Các nhà cải cách xã hội và phần tử
tri thức lúc bấy giờ đã bày tỏ sự bất mãn, thất vọng đối với những hệ quả của
cuộc Cách mạng tư sản và đồng thời đề xuất thay đổi trật tự xã hội hiện hữu,
hình thành nên một trật tự xã hội mới.
Trước tình hình và
bối cảnh xã hội đó, A. Comte đã đưa ra hệ thống lý luận của mình như là một
phương thức để làm thay đổi cục diện xã hội lúc bấy giờ. Sau khi hình thành một
ngành khoa học, xã hội học đã phát triển nhanh chóng và lan truyền mạnh mẽ đến
các quốc gia như Anh, Đức, Ý, Nga, Mỹ, Nhật Bản… Chưa đầy 100 năm sau đó, xã hội
học đã được du nhập, ảnh hưởng đến hầu hết các nước trên thế giới, trong đó có
Việt Nam.
1.1.1.
Bối cảnh về kinh tế-xã hội
Các lý thuyết và
trào lưu tư tưởng xã hội đã có từ rất lâu trong lịch sử xã hội loài người. Từ
thời cổ đại con người đã tiến hành tìm hiểu các vấn đề về hành vi, đạo đức, môi trường xã hội trong
chính đời sống của mình. Bất luận là lịch sử tư tưởng xã hội từ thời Hy Lạp cổ
đại, La Mã cổ đại hay các trường phái tư tưởng thời kỳ Phục Hưng và thời kỳ hiện
đại thì nó cũng đi ra ngoài quỹ đạo của các lĩnh vực nêu trên. Mặc dù các luồng
tư tưởng lúc bấy giờ vẫn còn ít nhiều mang màu sắc triết học, thần học ở nhiều
cấp độ khác nhau nhưng nếu đặt trong toàn bộ bối cảnh xã hội lúc bấy giờ thì những
tư tưởng đó vẫn có giá trị rất lớn. Cũng giống như những khoa học khác, sự ra đời
của khoa học xã hội học không phải “tự dưng” hay ngẫu nhiên. Nói cách khác, nó
được sản sinh dưới những điều kiện, tiền đề, bối cảnh văn hóa, lịch sử, kinh tế-xã
hội nhất định.
Thứ nhất, vào cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, đời sống xã
hội châu Âu đã có những chuyển biến hết sức phức tạp. Cuộc cách mạng Công nghiệp
và cách mạng chính trị đã tạo nên một làn sóng lớn dội đập vào toàn bộ các lĩnh
vực trong đời sống xã hội các nước châu Âu và tạo nên những lực va đập vô cùng
lớn làm xô lệch một số lĩnh vực, phương diện mà trước đó được xem là thành trì
vững chắc[2]. Cuộc cách mạng Công nghiệp với máy móc
cơ khí hiện đại và những nhà xưởng sản xuất khổng lồ đã thay thế kiểu sản suất
thủ công truyền thống. Nhằm tìm kiếm và mở rộng thị trường cho những sản phẩm
cơ khí công nghiệp, mạng lưới giao thông vận tải đường bộ và đường biển cũng
phát triển với quy mô cực lớn và cùng với nó là các ngành nghề dịch vụ, thương
mại cũng phát triển nhanh chóng. Các sản phẩm công nghiệp như những “khẩu pháo”
khổng lồ “bắn phá” vào các nước vốn trước đó tương đối khép kín, gây nên những
phản đối mãnh liệt từ các quốc gia này. Dưới những xung kích từ làn sóng của
các trào lưu tư tưởng, các sản phẩm cơ khí công nghiệp, quan niệm giá trị và lối
sống của con người cũng chịu những tác động lớn, từ đó dấy lên những làn sóng
phản đối và bất mãn đối với Chủ nghĩa tư bản.
Thứ hai, sự phát triển của Chủ nghĩa xã hội. Dưới chế độ của Chủ nghĩa tư bản, đại
đa số người lao động làm việc mười mấy giờ đồng hồ trong ngày nhưng đồng lương
hay các khoản trợ cấp thật sự ít ỏi, chỉ đủ để duy trì cuộc sống thường nhật.
Không chỉ có thế, các nhà tư bản cố thu được lợi nhuận cao nhất nên việc đầu tư
điều kiện làm việc cho công nhân hạn chế tối đa dẫn đến điều kiện lao động quá
tồi tệ, khiến cho mức sống, chất lượng sống của công nhân và gia đình họ ngày
càng giảm sút, nhiều công nhân rơi vào cảnh khốn cùng, khó khăn chồng chất.
Chính điều đó thôi thúc họ tổ chức vận động lật đổ chế độ Tư bản chủ nghĩa. Lúc
bấy giờ, nhiều nhà cải cách xã hội trong đó có Karl Marx và Friedrich Engels đã
khởi xướng và đề xuất học thuyết về một chế độ thay thế Chủ nghĩa tư bản đó là
Chủ nghĩa xã hội, thế nhưng cũng có những nhà xã hội học lại có lập trường khác
biệt. Chẳng hạn, Emile Durkheim[3]
hay Max Weber[4]
đều không tán đồng với các học thuyết về Chủ nghĩa xã hội. Các học giả này cho
rằng, những khuyết tật và vấn đề nảy sinh trong xã hội của chủ nghĩa tư bản thì
có thể tiến hành điều chỉnh, sửa đổi ngay trong nội tại của chủ nghĩa tư bản,
không cần phải tiến hành những cuộc cách mạng như Karl Marx đã đề xướng. Thế
nhưng, tiến trình phát triển của xã hội khiến cho người ta hiểu ra rằng, lý luận
về Chủ nghĩa xã hội khoa học đã vạch ra quy luật phát triển của xã hội và ngày
càng có sức sống mãnh liệt.
Thứ ba, quá trình đô thị hóa. Cùng với sự phát triển nhanh chóng của cuộc cách mạng
công nghiệp, số lượng các đô thị vừa và nhỏ ở châu Âu gia tăng nhanh chóng, đô
thị lớn và siêu đô thị cũng gia tăng về số lượng. Từ lâu người ta đã tin tưởng
rằng chính các đô thị là nơi hội tụ văn minh, tự do tư tưởng và hưởng thụ vật
chất tốt nhất. Thế nhưng, quá trình phát triển của đô thị cũng mang đến nhiều vấn
đề xã hội, các tệ nạn khiến cho nhiều người cảm thấy thất vọng, thậm chí ám ảnh
về nó. Đó chính là những vấn đề liên quan đến việc gia tăng dân số cơ học quá mức,
vấn đề ùn tắc giao thông (kẹt xe), thiếu thốn về nhà ở, ô nhiễm môi trường, vấn
đề về hạ tầng xuống cấp; các mối quan hệ xã hội ngày càng phức tạp, rối rắm;
thiết chế gia đình bị lung lay, rạn nứt; các vấn đề về ma túy, mại dâm, tội phạm,
buôn bán người... luôn rình rập và tác động trực tiếp đến đời sống của thị dân.
Thứ tư, sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật. Cùng với những sản phẩm
mang hàm lượng khoa học kỹ thuật cao xuất hiện ngày càng nhiều trong các lĩnh vực
của đời sống, địa vị và uy tín của nó cũng ngày càng được khẳng định. Điều
này có tác động lớn đến quá trình phát triển lý luận xã hội học. Từ rất sớm,
các nhà xã hội học đã chú tâm đến việc phát triển khoa học “cứng”, họ hy vọng
và cố gắng đưa kiến thức của sinh vật học, hóa học, vật lý học vào khoa học xã
hội học. Thế nhưng, cùng với đó cũng có nhiều quan điểm khác nhau, đặc biệt là
về sau này, cho rằng khoa học xã hội và nhân văn không hoàn toàn giống với khoa
học tự nhiên, do đó khi đưa hệ thống kiến thức và phương pháp tính toán của
khoa học tự nhiên vào khoa học xã hội cũng cần có những sàng lọc và chừng mực
nhất định[5].
Từ bối cảnh kinh tế-xã
hội đó đã gây nên những xáo trộn trong đời sống xã hội và tạo nên những chuyển
biến xã hội hết sức lớn, các mâu thuẫn xã hội, mâu thuẫn giai cấp, mâu thuẫn
dân tộc, mâu thuẫn tôn giáo gia tăng; phân tầng xã hội và phân hóa giàu nghèo
ngày càng gay gắt; những biến đổi trong thiết chế gia đình, quan hệ giữa con
người với con người cũng nảy sinh những mâu thuẫn. Những điều kiện và bối cảnh
kinh tế-xã hội này đã thôi thúc con người mong muốn lập lại trật tự xã hội; tìm
hiểm và đưa ra những giải pháp nhằm giải thích các hiện tượng xã hội, vấn đề xã
hội, tạo sự ổn định xã hội.
1.1.2.
Bối cảnh về chính trị, tư tưởng
Vào thế kỷ XVIII,
nhiều nhà cải cách xã hội bày tỏ sự không thỏa mãn và hài lòng với những giải
thích của các triết gia đối với các vấn đề xã hội, vấn đề về con người. Họ bắt đầu
chú ý và gợi mở trí tuệ, sức tưởng tượng của mọi tầng lớp nhân dân, hình thành
những cuộc thảo luận mang tính phê phán, đồng thời tiến hành những phong trào cải
cách, đổi mới ở một số địa điểm. Điển hình là cuộc vận động Khai sáng vào thế kỷ
XVII và trào lưu tư tưởng Chủ nghĩa xã hội không tưởng và thế kỷ XIX.
1.1.2.1.
Ảnh hưởng của tư tưởng Khai sáng
Cuộc vận động Khai
sáng và sự hình thành khoa học xã hội học ở Pháp chính là hiện trưng cho một thời
kỳ lịch sử của sự thay đổi và phát triển các tư tưởng triết học mà các nhân vật
đại diện là Voltaire (1694-1778), Jean Jacques Rousseau (1712-1778). Quan điểm
cơ bản của các nhà tư tưởng này mặc dù có những khác nhau nhất định nhưng điểm
giống nhau là họ đều phản đối chế độ phong kiến đương thời, họ đều tuyên bố
tính bất hợp lý của chế độ phong kiến và yêu cầu cần phải có một chế độ “lý
tính” phù hợp với trật tự “tự nhiên” để thay thế, bảo vệ chế độ sở hữu của giai
cấp tư sản; họ phản đối chính thể quân chủ, phản đối chủ quyền quân chủ và đề
xuất tư tưởng chủ quyền nhân dân; phản đối sự đặc quyền về đẳng cấp và các tư
tưởng phong kiến, đề xuất các chủ trương về tự do, bình đẳng, bác ái. Các nhà
tư tưởng bấy giờ đều cho rằng chế độ xã hội và nhà nước không phải do thần
thánh sinh ra và cũng không có tính vĩnh cửu. Họ cho rằng chế độ xã hội và nhà
nước do chính con người kiến tạo nên (kết quả của khế ước xã hội). Họ phản đối
các thế lực tôn giáo, giáo hội; phản đối sự mê tín và ngu muội; nhấn mạnh đến tầm
quan trọng của tri thức và sức mạnh của giáo dục. Các nhà tư tưởng bấy giờ cho
rằng quá trình phát triển của xã hội luôn tuân theo những quy luật và động lực của
sự phát triển chính là tâm linh, tri thức và lương tri con người. Mục đích cuối
cùng của họ là đề xuất hình thành cái gọi là “vương quốc lý tính” – tức là các
nước cộng hòa giai cấp tư sản.
Đặc điểm về phong
trào Khai sáng là con người tin rằng thông qua những nghiên cứu lý tính và kinh
nghiệm để giải thích, kiểm soát vũ trụ. Niềm tin rằng, thế giới tự nhiên bị chi
phối bởi các quy luật tự nhiên, thế thì con người cũng có thể vận dụng những
quy luật tương tự như thế trong quản lý và chi phối xã hội. Do quá nhấn mạnh đến
lý tính nên các nhà triết học trong phong trào Khai sáng kịch liệt phản đối các
niềm tin, uy quyền của xã hội truyền thống. Khi tiến hành quan sát và đánh giá
các giá trị truyền thống họ càng phát hiện tính bất hợp lý của nó và kêu gọi bài
xích các giá trị truyền thống của chế độ phong kiến.
Các tư tưởng trong
Phong trào Khai sáng có những điểm tiến bộ nhưng cũng có màu sắc của chủ nghĩa
không tưởng duy tâm. Chính lẽ đó, các nhà xã hội học lúc bấy giờ, xuất phát từ
lập trường khác nhau và những góc độ tiếp cận khác nhau đã tiếp thu tính hợp lý
của tư tưởng Khai sáng ở những mức độ khác nhau. Từ phương diện biểu hiện nhìn
nhận, tư tưởng Khai sáng đã ảnh hưởng trực tiếp đến xã hội học Pháp mà những
nhân vật đại diện là Louis De Bonald (1754-1840) và Joseph De Maistre
(1753-1821). Các học giả này không chỉ phản đối Phong trào Khai sáng mà còn phản
đối cả cuộc cách mạng Tư sản Pháp[6]. Họ muốn quay ngược lịch sử về thời Trung cổ
và ở đó, yếu tố lý tính luôn là thứ yếu, thượng đế mới là tối cao. Từ đó có thể
thấy, các nhà xã hội học Pháp từ rất sớm đã mang dấu ấn tư tưởng triết học của
giai cấp tư sản.
1.1.2.2.
Ảnh hưởng từ tư tưởng Chủ nghĩa xã hội không tưởng
Ngay từ đầu thế kỷ
XIX, phương thức sản xuất tư bản đã bộc lộ những hạn chế và mâu thuẫn, sự phát
triển của chủ nghĩa tư bản đi liền với sự nghèo đói của quần chúng lao động. Một
số nhà cải cách xã hội thuộc trường phái Chủ nghĩa xã hội không tưởng lúc bấy
giờ như Claude Henri Saint Simon
(1760-1825), Robert Owen (1771-1858), Jean Baptiste Joseph Fourier (1768-1830)
đã đứng trên lập trường và lợi ích của người lao động, mạnh dạn bóc trần nguyên
nhân dẫn đến sự giàu có và khốn cùng của chế độ xã hội đương thời và đồng thời
khởi xướng tư tưởng Chủ nghĩa xã hội không tưởng[7]. Sở dĩ
gọi họ là những người theo chủ nghĩa không tưởng bởi vì chính trong tư tưởng của
họ tồn tại nhiều mâu thuẫn không thể giải quyết được: một mặt, họ đề xuất quy
luật phát triển của xã hội loài người, phủ định giá trị “hoàn mỹ” của chủ nghĩa
tư bản, đề xuất kiến lập một xã hội công nghiệp mang màu sắc lý tính – chế độ
xã hội chủ nghĩa, nhưng họ xem chủ nghĩa xã hội là sản phẩm của lý tính, phủ nhận
tính tất yếu của bạo lực cách mạng; mặt khác, họ là đại diện lợi ích của những
người vô sản và mong muốn tìm kiến con đường để giải thoát áp bức và nghèo đói
nhưng lại cho rằng những người vô sản là ngu muội, thiếu tri thức và cần những
người giàu có giáo dục, giúp đỡ họ; một phương diện khác, họ cho rằng đấu tranh
giai cấp là tư tưởng thiên tài và có tác dụng chủ yếu trong quá trình phát triển
của xã hội loài người nhưng cũng chính họ lại phản đối các hình thức đấu tranh
giai cấp và đồng thời chủ trương một chế độ xã hội được xây dựng trên nền tảng
của sự hợp tác giữa công nhân và giới chủ, giữa người nghèo và tầng lớp giàu
có.
Trong tư tưởng Chủ
nghĩa xã hội không tưởng ở Pháp vào thế kỷ XIX với chủ trương phủ định tất cả
các hành động cách mạng chính là nhược điểm lớn của học thuyết này. Thế nhưng,
có thể nói rằng, tư tưởng của họ là có những đóng góp lớn lao trong các trào
lưu tư tưởng trong lịch sử bởi chí ít nó phản ánh, biểu hiện, hiện trưng, tiếng
thở dài của một giai cấp được sản sinh ngay trong lòng giai cấp tư sản bấy giờ.
Trong tư tưởng Chủ
nghĩa xã hội không tưởng tồn tại nhiều vấn đề tiêu cực như quan điểm duy tâm lịch
sử, quan điểm điều hòa xã hội và phi bạo lực cách mạng và các quan điểm này được
A. Comte tiếp thu. Thế nhưng, trong phương pháp luận nghiên cứu xã hội thì A.
Comte có quan điểm tiến bộ hơn người thầy của mình là S. Simon: S. Simon mong
muốn kiến lập một ngành khoa học nghiên cứu các hiện tượng xã hội theo kiểu “vật
lý học xã hội” nhưng chưa đưa ra được một phương pháp và tư tưởng mang tính hệ
thống, và nếu có thì chỉ mang “màu sắc” của tính hệ thống và tính khoa học.
Khác với A. Comte, K. Marx đã tiếp thu những nhân tố tích cực từ tư tưởng của
Chủ nghĩa xã hội không tưởng đồng thời hình thành nên quan điểm xã hội học của
chính bản thân mình – một khởi nguồn quan trọng cho tư tưởng chủ nghĩa xã hội
khoa học.
1.2. Vai trò của xã hội học trong lãnh đạo,
quản lý
Bất cứ một ngành
khoa học nào cũng có những chức năng nhất định và chính chức năng này khẳng định
vị thế, vai trò của khoa học đó trong hệ thống tri thức của nhân loại. Xã hội học
không là ngoại lệ. Tùy theo cách tiếp cận khác nhau mà có cách xác định và phân
chia theo các nhóm chức năng của một ngành khoa học. Theo cách phân chia tương
đối phổ biến hiện nay, xã hội học được xác định các nhóm chức năng chủ yếu: chức
năng nhận thức, chức năng thực tiễn, chức năng giáo dục[8].
Tuy nhiên, nghiêm túc nhìn nhận, cách xác định nhóm chức năng như vậy là đúng
nhưng chưa thấy được “tính đặc trưng” của khoa học xã hội học, chí ít là dễ “nhầm
lẫn” với các ngành khoa học khác về chức năng. Nói cách khác, chưa khu biệt được
chức năng của xã hội học với các khoa học khác. Do đó, có thể xác định chức
năng của xã hội học ở những phương diện cụ thể sau:
- Thứ nhất, cung cấp tri thức thực chứng, cứ liệu
khoa học cho chính phủ và các nhà hoạch định chính sách.
Trong những năm gần
đây, các vấn đề về chiến lược phát triển xã hội đã thu hút nhiều sự chú ý của
giới khoa học và chính phủ các nước. Chiến lược phát triển xã hội chính là
phương hướng căn bản, là con đường và bước đi về phát triển của một quốc gia.
Nhiều nước trên thế giới đã hình thành nên các ban cố vấn, chuyên gia, nguồn dữ
liệu, kho dữ liệu lớn[9] cũng là chỉ báo cho thấy một chiến lược nghiên cứu
phát triển xã hội. Đến lượt mình, với tư cách là ngành khoa học thiêng về thực
chứng, xã hội học đóng góp cho tiến trình phát triển xã hội những phương pháp
nghiên cứu thu thập thông tin, phân tích và xử lý thông tin, cung cấp cho nhà hoạch
định chính sách những cứ liệu thực chứng để có cái nhìn đúng đắn đối với các vấn
đề xã hội, đưa ra đối sách giải quyết hợp lý.
Đối với chúng ta,
trong tiến trình thực hiện mục tiêu Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng,
văn minh thì vấn đề giải quyết hài hòa các mối quan hệ, các nhân tố xã hội, lợi
ích giữa các nhóm xã hội, giữa thành thị và nông thôn, giữa các địa phương
trong cả nước, các thành phần kinh tế....là vấn đề trọng yếu mang tầm chiến lược.
Để giải quyết tốt những mối quan hệ và vấn đề này thì không thể không vận dụng
tri thức xã hội học mà chí ít là cách tiếp cận, phương pháp của nó để tiến hành
nghiên cứu, nắm bắt các nhân tố có tác động (thậm chí tác động ở mức độ nào,
tương quan ra sao, hệ số tương quan như thế nào, nhân tố nào là trọng yếu….) đối
với chiến lược phát triển xã hội. Từ giác độ xã hội học nhìn nhận, xã hội là một
hệ thống chỉnh thể[10] mà bên trong là các bộ phận với tư cách là những
tiểu hệ thống. Muốn tối ưu hóa các bộ phận, thành tố của xã hội không đồng
nghĩa với việc tối ưu hóa xã hội chỉnh thể. Nói cách khác, chỉ khi nào các bộ
phận, nhân tố, thành tố bên trong xã hội có mối liên hệ hài hòa, hoạt động nhịp
nhàng thì lúc đó xã hội chỉnh thể mới có thể tối ưu hóa và phát triển. Kết quả
nhiên cứu của xã hội học có thể dùng để xử lý và giải quyết các mối quan hệ
này, chỉ khi nào các mối quan hệ này được xử lý tốt thì xã hội tổng thể mới có
thể phát triển một cách hài hòa, gia tốc phát triển mới được duy trì, cổ máy xã
hội mới phát triển bền vững.
Từ giác độ xã hội
học nhìn nhận, bất kỳ một bộ phận nào trong xã hội cũng không thể phát triển một
cách độc lập mà nó bị chế ước, chi phối, tác động bởi những nhân tố khác.
Nghiên cứu xã hội học không những tìm ra các nhân tố tác động mà còn phân tích
và chỉ ra mối tương quan giữa các nhân tố đó. Chính điều này là căn cứ đáng tin
cậy cho chính phủ, các nhà hoạch định chính sách những đúng đắn, khả thi, sát với
tình hình thực tiễn.
Cần phải nhấn mạnh
rằng, xã hội học và kết quả nghiên cứu của nó không là những “cải cách xã hội”
như nhiều người quá đề cao. Thế nhưng, những phương pháp và kết quả nghiên cứu
xã hội học sẽ cung cấp cho nhà quản lý, hoạch định chính sách những số liệu thực
chứng như một chứng cứ làm cơ sở chính yếu để ban hành những chính sách, dự án,
chương trình, giải pháp có liên quan. Lưu ý, xã hội và các sự thật xã hội luôn
biến đổi (thậm chí biến đổi một cách nhanh chóng) nên không có giải pháp nào
mang tính vĩnh cửu, không thể đúng trong mọi thời điểm và hoàn cảnh.
Thứ hai, giải thích và định hướng hành vi, hành động
xã hội.
Hệ thống lý thuyết
của xã hội học rất phong phú và mỗi lý thuyết nhằm hướng đến luận giải những
hành vi, hành động của con người trong các mối quan hệ giữa con người với con
người, con người với tự nhiên, con người với cộng đồng. Những giải thích này
giúp cho con người có nhãn quan mới khi xem xét, đánh giá, nhận chân các hệ thống
giá trị, chuẩn mực xã hội, hướng đến những hành động phù hợp, giảm thiểu những
hành vi lệch lạc.
Có thể nói rằng,
thỏa mãn các nhu cầu vật chất và tinh thần của con người chính là mục tiêu cuối
cùng của việc phát triển kinh tế. Nói cách khác, chỉ khi nào mục đích kinh tế
chuyển biến thành lợi ích xã hội thì mục đích kinh tế đó mới thật sự có ý
nghĩa. Cũng có nghĩa rằng, việc nâng cao chỉ số GDP một cách đơn thuần bản thân
nó không nói lên được chất lượng sống của người dân.
Với tư cách là một
bộ môn khoa học độc lập, xã hội học phát huy được những ưu thế của mình trong
cách nhìn nhận, đánh giá các vấn đề xã hội. Trong đó, khi nghiên cứu xã hội mà
cụ thể là các sự kiện, hiện tượng, vấn đề xã hội, chất lượng cuộc sống thì xã hội
học đi tìm các nhân tố tác động và tiến hành phân tích để lượng giá nó, chỉ ra
những nhân tố quyết định đến chất lượng sống của con người ở mỗi thời điểm, mỗi
không gian và nhóm xã hội. Từ đó đưa ra một mô thức của phương thức sống một
cách khoa học và có tính tổng hợp cao. Trong những điều kiện và tiền đề về kinh
tế thì con người biết định hướng hành vi của mình để có được chất lượng sống tốt
nhất.
Thứ ba, cung cấp những tri thức cần thiết để giải
thích các sự kiện, hiện tượng, vấn đề xã hội, thúc đẩy sự phát triển xã hội.
Không như trong xã
hội phong kiến với kiểu xã hội khép kín, ít có sự di động xã hội và tự cung tự
cấp. Trong xã hội hiện đại, từ ăn, mặc, ở, đi lại cũng như các vấn đề liên quan
đến sinh, lão, bệnh, tử không còn phải bó gọn và chỉ dựa vào người thân trong
gia đình đảm nhận mà đã có hình thức “xã hội hóa” hết sức rộng rãi. Nói cách
khác, các dịch vụ xã hội gần như đã thay thế những chức năng mà trước đó chỉ có
gia đình đảm nhận và tầm “phủ sóng” của nó trên tất cả lĩnh vực từ vật chất đến
tinh thần. Cùng với việc nâng cao mức sống, con người chẳng những được thỏa mãn
các nhu cầu cơ bản mà còn đòi hỏi những nhu cầu cao hơn về các dịch vụ xã hội.
Từ đó xuất hiện rất nhiều loại dịch vụ mà trước đó không ai có thể tưởng tượng:
bảo hiểm xã hội, dịch vụ công, công tác xã hội, dịch vụ vui chơi giải trí, dịch
vụ nghe nhìn…Trong đó, lĩnh vực bảo đảm xã hội và công tác xã hội là 2 lĩnh vực
mà xã hội học (với cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu) có những đóng góp
nhất định. Không phải ngẫu nhiên mà ở nhiều quốc gia, khoa xã hội học, công tác
xã hội là một bộ môn không thể khuyết thiếu (thậm chí là môn học bắt buộc)[11]. Nhiều trường đại học nổi tiếng ở các quốc gia
phát triển trên thế giới đã hình thành các viện công tác xã hội. Chẳng hạn như
Mỹ và Canada là các quốc gia có viện Công tác xã hội có quy mô cực lớn[12]. Các chuyên ngành được đào tạo có Phúc lợi xã hội,
Đoàn thể xã hội, Lao động xã hội…
Xã hội học chẳng
những cung cấp những tri thức về quản lý xã hội, phúc lợi xã hội mà còn bồi dưỡng
cho xã hội những con người có tri thức về lĩnh vực công, công tác xã hội. Nhiều
quốc gia phát triển khi tiến hành tuyển dụng nhân viên hành chính đã yêu cầu ứng
viên phải có nghiệp vụ và chuyên ngành xã hội học.
Đối với nước ta,
trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế và tham gia vào tiến trình toàn cầu hóa
mạnh mẽ như hiện nay, ngoài những kiến thức từ các chuyên ngành khoa học khác,
tri thức và phương pháp xã hội học cũng đã dần được khẳng định vì cách giải
thích và đưa ra các giải pháp để giải quyết các vấn đề xã hội phát sinh trong
tình hình mới. Những nghiên cứu xã hội học trên quy mô quốc gia đã được tiến
hành và thu nhận được nhiều kết quả có độ tin cập cao đã góp phần cho việc nhìn
nhận đúng đắn các vấn đề xã hội, hoạch định các chính sách có liên quan một
cách đúng đắn đã chứng minh vai trò, chức năng quan trọng của khoa học xã hội học.
Thứ tư, thúc đẩy quá trình hiện đại hóa một cách
thuận lợi.
Quy hoạch, dự báo,
tầm nhìn là một trong những yêu cầu không thể thiếu đối với người lãnh đạo, quản
lý; là một trong những yêu cầu, đặc điểm của xã hội hiện đại. Tất cả các dự án,
đề án, chương trình, chiến lược, chính sách đều cần phải có những nghiên cứu để
nắm bắt tình hình, cứ liệu để phân tích, đánh giá và đưa ra những tiên liệu. Bất
kỳ một hoạch định nào trong xã hội hiện đại, bất luận là hoạch định về công
nghiệp hay nông nghiệp; nông thôn hay đô thị, cũng đều xuất phát từ quy hoạch
xã hội, tức là cần phải có cái nhìn tổng thể về các vấn đề, phương diện xã hội[13]. Do đó, trước khi xác lập một chương trình, dự
án, đề án thì trước tiên phải tiến hành điều tra để nắm bắt các thông tin xã hội,
điều kiện xã hội, nhân tố xã hội và hơn thế nữa thông qua những cứ liệu thực chứng
đó, cần dự đoán, tiên liệu một cách khoa học về hiệu quả, hệ quả cũng như những
tác động xã hội của nó. Trong quá trình thực thi các dự án, kế hoạch còn cần phải
nắm được các biến động của các nhân tố xã hội từ đó mà có những điều chỉnh cho
phù hợp, tránh phát sinh những tác động tiêu cực không mong muốn. Sau khi hình
thành những đề án, dự án, chương trình, muốn đảm bảo thực thi một cách có hiệu
quả cũng cần có những lưu ý về tác động xã hội của nó, nhất là những tác động
mà trước đó người hoạch định chưa tiên liệu hết.
Tất cả những vấn đề
trên cần có sự vào cuộc của các nhà xã hội học. Đặc biệt trong tình huống sau
thì vai trò của xã hội học thể hiện rất rõ:
- Một kế hoạch,
chương trình nào đó khi nhìn ở một mô đun (khoảng) thời gian ngắn thì hoàn toàn
có lợi nhưng khi đặt nó trong một khoảng thời gian đủ lớn thì bắt đầu thấy nhiều
bất cập, thậm chí có hại[14]; tương tự, một kế hoạch, chương trình nào đó khi
nhìn ở một khoảng thời gian ngắn thì chỉ thấy hệ quả tiêu cực nhưng khi đặt nó
trong một mô đun thời gian đủ lớn và ở tầm chiến lược lại thấy những giá trị
tích cực mà nó mang lại[15]. Muốn có được điều này thì cần phải tiến hành
nghiên cứu xã hội học với những minh thức bằng số liệu thực chứng để phân tích.
- Một chính sách,
dự án, kế hoạch nào đó có thể có lợi cho một hoặc vài lĩnh vực, phương diện nhưng
lại gây phương hại, tác động tiêu cực đến một hoặc nhiều phương diện khác[16]. Trong trường
hợp này, cần có những nghiên cứu xã hội học để đánh giá những mặt được, chưa được;
ưu điểm, hạn chế; các tác động phái sinh để điều chỉnh lại chính sách cho phù hợp.
Những đánh giá chính xác và dự báo chuẩn xác có những giá trị lớn lao, lường
trước những hậu quả có thể phát sinh để từ đó có thể khẳng định tính chính xác
của chính sách, quyết định nên duy trì hay bãi bỏ một dự án, chương trình. Để
làm được điều đó không thể không sử dụng các công cụ và phương pháp nghiên cứu
của xã hội học.
Thứ năm, kết nối và sử dụng tri thức của các ngành
khoa học có liên quan trong nhìn nhận, đánh giá các vấn đề xã hội.
Trong những năm gần
đây, tốc độ phát triển của khoa học kỹ thuật đã đạt được gia tốc vô cùng lớn
làm cho xã hội chuyển biến nhanh chóng và mối quan hệ giữa các phương diện
trong đời sống xã hội cũng ngày càng gắn bó hơn, mật thiết hơn[17]. Bất cứ vấn đề gì trong xã hội không thể chỉ dựa
vào một ngành khoa học độc lập để nghiên cứu và giải quyết. Việc ứng dụng những
thành tựu của khoa học kỹ thuật vào đời sống xã hội cũng không thể tách rời các
nhân tố của đời sống con người, và do vậy không thể không đề cập đến các yếu tố
xã hội[18]. Nói cách khác, việc vận dụng tri thức của
khoa học tự nhiên vào trong nghiên cứu xã hội là cần thiết, xã hội học là khoa
học như vậy. Một số nghiên cứu hiện nay thiên về hướng tiếp cận liên ngành, đa
ngành mà xã hội học đóng vai trò không thể khuyết thiếu. Một trong những đối tượng
nghiên cứu của xã hội học là mối liên hệ giữa các bộ phận tổ thành của xã hội,
do đó có vai trò như là cầu nối, kết dính các khoa học có liên quan. Đến lượt
mình, các nhà xã hội học luôn ý thức được việc kết nối các tri thức của một số
chuyên ngành liên quan để tiến hành nghiên cứu xã hội. Chẳng hạn khi tiến hành
nghiên cứu đô thị (xã hội học đô thị), nhà xã hội học cần phải hiểu và vận dụng
một số kiến thức thuộc chuyên ngành khác như địa lý, môi trường, quản lý hành
chính, nhân khẩu học, giao thông, kiến trúc và phải hiểu được mối quan hệ giữa
nông thôn-đô thị, cấu trúc kinh tế, tổ chức xã hội, hệ thống dịch vụ…Với những
phương diện được liệt kê, có lĩnh vực thuộc khoa học tự nhiên, có lĩnh vực thuộc
khoa học xã hội và cả lĩnh vực khoa học phân kỳ khác, thế nhưng khi tiến hành
nghiên cứu đô thị thì các nhà xã hội học cần phải có kiến thức tổng hợp từ nhiều
chuyên ngành khoa học đó. Do vậy, trong các bộ môn quy hoạch đô thị ở các nước
phát triển thì chuyên gia xã hội học là một trong những thành viên cốt cán
không thể thiếu.
Trong quan hệ giữa
luật pháp và xã hội, giữa luật học và xã hội học thì các nghiên cứu xã hội học
góp phần thúc đẩy cho việc sản sinh ra các khoa học có tính chất liên ngành như
xã hội học pháp luật, xã hội học tội phạm. Chính lẽ đó, việc đẩy mạnh nghiên cứu
xã hội học đồng thời kết hợp tri thức liên ngành trong nghiên cứu, nhất là
nghiên cứu xã hội sẽ góp phần thúc đẩy nền khoa học nước ta phát triển và theo
kịp với trình độ của thế giới.
Thứ sáu, giúp cho con người có cái nhìn mới mẻ về
bản thân, cộng đồng và xã hội.
Trong xã hội truyền
thống, đời sống tương đối đơn giản, tiết tấu chậm và đôi khi đơn điệu; các lễ tục
và tập quán trở thành công cụ định hướng hành vi và đời sống của con người, dư
địa tự do cá nhân tương đối hẹp. Thế nhưng, trong xã hội hiện đại, cùng với
năng lực sản xuất và của cải xã hội gia tăng nhanh chóng, khoa học kỹ thuật
cũng có bước phát triển hết sức thần tốc và nhanh chóng được áp dụng vào trong
lĩnh vực sản xuất và đời sống xã hội. Từ đó làm thay đổi cấu trúc xã hội, quan
hệ sản xuất, quan hệ xã hội, làm chuyển biến một cách sâu sắc đến đời sống xã hội
trên mọi phương diện. Nếu làm phép so sánh, xã hội hiện đại khác với xã hội
truyền thống ở những phương diện nổi bật sau: (1). Tính phức tạp, xã hội hiện đại
đã làm cho diện mạo xã hội hết sức đa dạng, phong phú, nhiều góc cạnh: phức tạp
trong mối quan hệ xã hội, phức tạp trong phương thức sống, trong các hoạt động
sống, hoạt động giải trí; phức tạp trong các loại hình và kiểu thiết chế như
gia đình, trường học… (2) Tính đa biến, trong xã hội truyền thống, tốc độ biến
đổi xã hội tương đối chậm và thông thường phải trải qua một khoảng thời gian
hàng trăm năm, thậm chí hàng ngàn năm mới thấy được sự thay đổi một cách rõ
nét. Thế nhưng trong xã hội hiện đại, tốc độ chuyển biến xã hội là rất lớn và
thường xuyên gia tốc đã tác động đến đời sống của con người trên nhiều lĩnh vực.
Trong một xã hội có nhiều biến chuyển và chuyển biến với tốc độ nhanh như vậy,
nếu chỉ dựa vào những tri thức thường thức, vụn vặt, đơn lẻ chắc chắn sẽ không thể
nhìn nhận đúng vấn đề. Nói cách khác, cần phải có tri thức khoa học và khoa học
liên ngành để nghiên cứu, xem xét, đánh giá…Có thể nói, hơn ai hết, xã hội học
cung cấp những tri thức cơ bản mang tính tổng hợp nhưng không quá cao siêu giúp
cho con người có cái nhìn mới mẻ và chính xác về bản thân, gia đình, cộng đồng
và mối quan hệ giữa chúng. Đúng như nhận định: “Sức quyến rũ của xã hội học chính là ở chỗ: bằng cách giải thích của nó
khiến cho chúng ta có thể nhìn thế giới mà chúng ta đã và đang sống suốt cả cuộc
đời dưới một ánh sáng mới”[19].
Khi có được những tri thức thường thức về xã hội học, khi tham giai vào các hoạt
động xã hội, con người có thể xác định được những hệ giá trị, chuẩn mực, niềm
tin, quy ước xã hội để kiểm soát hành vi và hành động của bản thân, trở thành một
công dân “hợp cách” trong một xã hội nhất định một cách hợp thức nhất khi thông
qua quá trình xã hội hóa cá nhân.
Tóm lại, các lĩnh vực nghiên cứu của xã hội học rất rộng lớn, bao trùm lên tất cả
các phương diện của đời sống xã hội. Trong quá trình phát triển đất nước nói
chung, quá trình đổi mới một cách triệt để trên nhiều lĩnh vực cụ thể nói
riêng, nếu quan sát một cách tỉ mỉ và khoa học cho thấy, thành quả mà chúng ta
đạt được là rất lớn. Tuy vậy, bên cạnh đó lại phát sinh không ít những vấn đề cần
được nghiên cứu, giải quyết để “bốc ra toa thuốc và phác đồ điều trị” đúng đắn,
hợp lý, kịp thời nhất, giúp cho cơ thể xã hội lành mạnh. Muốn vậy cần phát triển
mạnh mẽ các ngành khoa học nói chung, khoa học xã hội học nói riêng. Tuy nhiên,
thực tế ở nước ta cho thấy, khoa học xã hội học vẫn chưa được phát triển xứng tầm;
vị thế của xã hội học vẫn chưa được đánh giá đúng mực và vai trò của xã hội vẫn
chưa đặt đúng vào vị trí vốn có nó. Không phải ngẫu nhiên mà Tony Bilton đã nhấn
mạnh: “Xã hội học sẽ là công cụ hữu hiệu
để cho con người có thể xây dựng cho mình một xã hội tốt đẹp hơn”.
[1]
Auguste Comte (1798 - 1957) là nhà toán học, vật lý học, thiên văn học, triết học,
nhà cải cách xã hội người Pháp. Khái niệm “xã hội học” được A. Comte xây dựng
và lần đầu tiên đưa vào hệ thống tri thức khoa học lần đầu tiên vào năm 1838. Với
tư cách là nhà sáng lập khoa học xã hội học, Auguste Comte sẽ được giới thiệu cụ
thể hơn ở phần sau.
[2] Xã
hội rơi vào trạng thái biến động không ngừng: chiến tranh, khủng hoảng kinh tế,
xung đột chính trị, suy thoái đạo đức, phân hóa giàu nghèo, bùng nổ dân số, tan
rã hàng loạt các thiết chế cổ truyền. Xem: Nguyễn Minh Hòa, Xã hội học - những vấn đề cơ bản, Nxb
Giáo dục, 1999, tr.8.
[3] Emile Durkheim (1858-1917), nhà xã hội học
người Pháp cũng là cha đẻ của nền xã hội học Pháp. Vì đây là một trong những
nhân vật sáng lập khoa học xã hội học nên sẽ được đề cập cụ thể hơn ở phần sau.
[4] Max Weber (1864-1920), nhà xã hội
người Đức, ông cũng là một trong những nhân vật tiêu biểu đối với khoa học xã hội
học, tiểu sử và cống hiến của ông sẽ được đề cập cụ thể hơn ở phần sau.
[5] Đây cũng là vấn đề hiện còn đang có nhiều
tranh cãi. Trong cuốn sách này chúng tôi không muốn bàn sâu đến lĩnh vực đang
tranh cãi nhưng ủng hộ quan điểm cần phải đưa những kiến thức của khoa học thống
kê vào trong nghiên cứu định lượng của xã hội học.
[6] Để có một tranh luận sâu rộng hơn, Xem: Robert A. Nisbet, Conservatism
and Sociology (American Journal of Sociology 58, 9-1952, tr. 166 -172.
[7] Saint
Simon phê phán chủ nghĩa tư bản và tự do cạnh tranh mà ý chí ngẫu nhiên làm cho
người này giàu có và được tôn sùng, còn người khác thì phá sản trở thành kẻ làm
thuê. Tổ chức xã hội tư bản, theo Saint Simon, rất không hoàn thiện và ở đó con
người buộc phải bóc lột và lừa bịp, còn chính phủ thì không đoái hoài tới dân
nghèo. Phê phán cuộc cách mạng dân chủ tư sản năm 1879 ở Pháp, ông cho rằng, nó
chưa thiết lập được một chế độ phù hợp với quyền lợi của “giai cấp nghèo khổ và đông đảo
nhất”, cho nên cần có một cuộc cách mạng mới vì hạnh phúc của toàn
xã hội, một cuộc cách mạng triệt để, một cuộc “Tổng cách mạng”. Xem: http://dangcongsan.vn/tu-lieu-van-kien/ho-so-su-kien/phong-trao-cong-san-cong-nhan-quoc-te/books-110120159024546/index-0101201585818468.html
[8] Xem: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí
Minh, Giáo trình Xã hội học trong lãnh đạo,
quản lý. Nxb Lý luận chính trị. H.2018, tr17-20.
[9] Còn gọi là “Big Data”. Big Data có thể
giúp các tổ chức, chính phủ dự đoán được tỉ lệ thất nghiệp, xu hướng nghề nghiệp
của tương lai để đầu tư cho những hạng mục đó, hoặc cắt giảm chi tiêu, kích
thích tăng trưởng kinh tế….
[10] Xem phần Lý thuyết tiếp cận hệ thống ở trên.
[11] Ở một số trường đại học có 2 nhóm
môn: nhóm tự chọn và nhóm bắt buộc. Nhóm tự chọn là lựa chọn một trong những
môn mà nhà trường liệt kê; nhóm bắt buộc là yêu cầu người học phải tích lũy đủ
số tín chỉ của môn học đó.
[12] Số lượng giáo viên, học viên của các Viện
công tác xã hội vượt qua cả Viện pháp luật.
[13] Theo quy định, bất cứ một dự án, chương
trình dân sinh nào cũng cần có đánh giá tác động môi trường và đánh giá tác động
xã hội. Thế nhưng trên thực tế, công tác và quy trình đánh giá tác động này dễ
bị bỏ qua (hoặc làm đối phó). Một trong những yêu cầu cơ bản của đánh giá tác động
xã hội là phải lựa chọn được những chỉ tiêu đúng, thiết thực và phù hợp với bối
cảnh xã hội, hay nói khác là các chỉ tiêu đó phải phản ánh đúng, đủ “tính xã hội”
(tính thời sự, cấp thiết) của một xã hội tại một thời điểm cụ thể, nhưng phải
khả thi và phải “thật”. Thực tế cho thấy, khi xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh
giá (và cả chỉ tiêu theo dõi) rất “đồ sộ”, “hoành tráng”, “đúng quy trình” nhưng
lại không đáp ứng được những yêu cầu cơ bản về tính khả thi, tính thực tiễn, tính
liên kết, tính mục tiêu, tính định lượng (đo lường), tính thời điểm… nên
chất lượng thông tin/đánh giá không cao, không phản ánh được đúng và đầy đủ bản
chất của nội dung cần đánh giá, không đáp ứng được yêu cầu quản lý và phát triển.
Dẫn đến nhiều dự án, chương trình đáng lẽ ra phải phục vụ cho đời sống dân
sinh, nâng cao chất lượng sống cho đối tượng thụ hưởng thì lại có nhiều tác động
tiêu cực, bị nhân dân phản đối, ca thán.
[14] Ví dụ: Chính sách hạn chế mức sinh để duy
trì sự tăng trưởng kinh tế. Nếu trong một khoảng thời gian nhất định thì tính
“ưu việt” của nó thể hiện rất rõ. Tuy nhiên, nếu kéo dài quá mức và không cần
thiết thì sẽ dẫn đến bài toán về nguồn nhân lực, dân số già, vấn đề di cư. Chính
sách một con của Trung Quốc kéo dài suốt 35 năm (1980-2015) cùng với nhiều hệ lụy
là một ví dụ minh chứng.
[15] Ví dụ: Sau khi lên cầm quyền, Lý Quang Diệu
đã quyết định chính sách song ngữ và chọn tiếng Anh làm ngôn ngữ chính (hành
chính, giáo dục). Nhiều người lúc đó (nhất là cộng đồng người Hoa – chiếm khoảng
77% dân số Singapore, đã có những phản ứng dữ dội bởi họ cho rằng, nếu như thế
sẽ làm mai một các giá trị văn hóa, mất tính kết nối giữa các thế hệ. Thế
nhưng, ngược lại với ý kiến đó, Lý Quang Diệu cho rằng: “Ngôn ngữ là chìa khóa
để tiếp thu kiến thức. Nếu học sinh không thể hiểu một ngôn ngữ, thì sẽ không
thể tiếp nhận thông tin hay kiến thức bằng chính ngôn ngữ đó. Do đó quan trọng
là một bước đột phá phải được thực hiện bằng tiếng Anh càng sớm càng tốt”; Nếu
các “tiếng mẹ đẻ” kết nối người dân Singapore với nguồn gốc, văn hóa và di sản
tinh thần của từng dân tộc thì tiếng Anh sẽ là ngôn ngữ làm việc, giúp họ kết nối
với nhau và với thế giới. Nhìn một cách rộng hơn, song ngữ đã giúp xây dựng khối
đoàn kết quốc gia và tăng cường bản sắc văn hóa của Singapore. Rõ ràng, nếu có
một cái nhìn dài hạn, chiến lược sẽ thấy được tác dụng tích cực nhiều hơn là
tiêu cực của chính sách này.
[16] Chẳng hạn, Nghị định số 141/2013/NĐ-CP
ngày 24/10/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều
của Luật Giáo dục đại học, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10/12/2013. Theo đó,
giảng viên có chức danh giáo sư, phó giáo sư và giảng viên có trình độ tiến sĩ
đang công tác tại cơ sở giáo dục đại học được kéo dài thời gian làm việc kể từ
khi đủ tuổi nghỉ hưu để giảng dạy, nghiên cứu khoa học nếu có đủ các điều kiện
theo quy định. Xét ở bình diện hẹp thì đây là chính sách rất hợp lý và nhân văn
nhằm tiếp tục khai thác, sử dụng nguồn lực chất xám của các giảng viên có trình
độ, năng lực. Nhưng khi đặt nó trong bối cảnh hiện nay và nhất là chiến lược
tinh giảm biên chế hiện nay thì thấy những bất cập; đặt trong bối cảnh nhiều
sinh viên ra trường không có việc làm và tỷ lệ thất nghiệp ở mức cao thì cũng
cho thấy nhiều “nút thắt”. Đó là chưa kể những xung đột lợi ích giữa các giảng
viên trẻ (giờ lên lớp, tiền lương) với các đối tượng thu hưởng từ Nghị định số
141 này.
[17] Mạng lưới "Vạn vật kết nối" (Internet
of Things) được dự báo có thể thay đổi hoàn toàn công việc, cuộc sống và xã hội
con người trong tương lai; có khả năng gắn kết con người với con người, con người
với các đồ vật mà trước đây chỉ có trong khoa học viễn tưởng. Ước tính, đến
năm 2020 sẽ có khoảng 50 tỷ vật thể được kết nối Internet trên toàn thế giới.
Nó sẽ tạo ra một mạng lưới vạn vật kết nối vô cùng khổng lồ. Đó là thế giới mà
mọi thứ sẽ thay đổi liên tục nhờ cảm biến và Internet. Mạng lưới "Vạn vật
kết nối" không đơn thuần là một cuộc cách mạng, tạo ra những sản phẩm tốt
hơn, thông minh hơn với chi phí thấp hơn hay khiến cuộc sống trở nên dễ thở hơn,
mạng lưới "Vạn vật kết nối" có thể sẽ mang đến sự bùng nổ kinh tế mới
khi thay đổi phương thức hoạt động của doanh nghiệp từ việc tạo ra sản phẩm mới
cho đến việc tương tác với khách hàng. Công nghệ này thực sự có thể thay đổi cuộc
sống, công việc và thế giới của chúng ta theo hàng triệu cách.
[18] Chẳng hạn các sản phẩm biến đổi gen, tác
động đến cấu trúc AND hay nhân bản vô tính đều có tác động đến xã hội, thậm chí
làm đảo lộn các giá trị, trật tự xã hội.
[19]
Perter Berger (1966), Instation to
Sociology, Harmondoworth, Panguim p.33
Nhận xét
Đăng nhận xét