NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA QUÁ TRÌNH XÃ HỘI HÓA CÁ NHÂN

 

NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA QUÁ TRÌNH XÃ HỘI HÓA CÁ NHÂN

Thực chất của xã hội hóa chính là quá trình biến một cá thể trở thành một thành viên xã hội thực sự, chính lẽ đó nội dung của xã hội hóa cũng rất rộng. Tất cả những yêu cầu cần thiết của xã hội đối với cá nhân như tri thức, kỹ năng, hành vi, phong tục, tập quán và cả hệ thống tư tưởng, quan điểm, thái độ, niềm tin đều là nội dung của xã hội hóa. Điều đó thể hiện ở một số phương diện sau:

Nội dung thứ nhất, học tập các kỹ năng sống, kỹ năng nghề nghiệp. Một cá thể (người) vừa mới sinh ra khả năng thích nghi với môi trường rất thấp. Ngoài bản năng uống (bú) sữa thì các tri thức, kỹ năng sống gần như không có. Cá thể muốn thỏa mãn nhu cầu ăn mặc thì cũng không có năng lực tự thỏa mãn nhu cầu đó, chỉ dựa vào nguồn cung cấp từ cha mẹ hoặc người lớn khác. Cùng với sự lớn lên của đứa trẻ, các kỹ năng đơn giản như ăn như thế nào, mặc ra sao,… đều được tiếp nhận từ phía người lớn. Ngoài ra, muốn được sinh sống “độc lập” thì mỗi cá nhân phải học tập và nắm vững một (hay nhiều) kỹ năng nghề nghiệp (như một sinh kế). Đối với một xã hội có mức độ phân hóa không cao, trình độ phát triển thấp thì kỹ năng này không mấy quan trọng. Nhưng trong một xã hội có tốc độ phát triển nhanh chóng và phân công lao động cao như hiện nay thì đây là kỹ năng vô cùng quan trọng. Từ đó có thể khẳng định, trong quá trình giáo dục và xã hội hóa ở nước ta hiện nay, việc giáo dục kỹ năng sống, kỹ năng nghề nghiệp là hết sức cần thiết.

Nội dung thứ hai, học tập, nội tâm hóa các quy phạm xã hội. Tại bất kỳ xã hội nào, ở thời điểm lịch sử nào, cũng đều cần một sự ổn định, hình thành các trật tự xã hội. Muốn vậy, cần hình thành các quy phạm xã hội. Các quy phạm xã hội độc lập đối với cá nhân và tồn tại trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội mà biểu hiện của nó là phong tục, tập quán, lối sống, tín ngưỡng, tôn giáo, tư tưởng, đạo đức, khuôn phép, nề nếp; mục đích của nó là chế ước, định hướng các hành vi của con người; điều chỉnh mối quan hệ giữa con người với con người, con người với cộng đồng, con người với xã hội. Như vậy, học tập và nội tâm hóa các quy phạm xã hội là một trong những nội dung quan trọng của xã hội hóa. Chúng ta thường nói “nhập gia tùy tục”, với hàm nghĩa này, khi một người nào đó muốn sinh sống, lao động, học tập trong một xã hội (thậm chí một môi trường làm việc mới) thì điều đầu tiên cần phải học hỏi và tuân thủ các quy phạm xã hội ở đó. Xã hội luôn phải thông qua sức mạnh của các công cụ, phương tiện như giáo dục, dư luận, thị phạm, hành chính, quyền lực để định hướng hành vi con người theo những quy phạm nhất định, tạo sự thống nhất trong nhận thức và hành động; giúp con người dần hình thành niềm tin, cách ứng xử,… và cuối cùng, các quy phạm xã hội được vận dụng trong thực tiễn đối với từng kiểu hành vi, hành động theo sự kỳ vọng của đa số người trong xã hội đó.

Nội dung thứ ba, đạt được các mục tiêu trong cuộc sống. Con người là động vật có ý thức. Trong quá trình sống của mình, con người thường suy nghĩ đến các vấn đề nhân sinh như vì sao cần phải sống, sống như thế nào? Vì sao phải hành động như thế này mà không phải như thế kia? Vì sao cần phải lao động, lao động như thế nào? Nói cách khác, trong suốt quá trình sống của mình con người luôn theo đuổi những mục tiêu nhất định, nếu không sẽ khó có một cuộc sống có ý nghĩa, là “các xác vô hồn”, thậm chí là vô nghĩa. Thế nhưng, vấn đề là ở chỗ, việc xác định các mục đích sống của mỗi cá nhân không phải (hay không chỉ) là kết quả của bản thân cá nhân đó mà trên thực tế, chịu sự tác động, ảnh hưởng một cách mạnh mẽ từ phía gia đình, cộng đồng, xã hội; bị chi phối (thậm chí quyết định) bởi hệ thống giá trị, chuẩn mực xã hội. Hệ thống giá trị, cũng có thể gọi là hệ thống quan niệm giá trị, là những niềm tin mang tính ổn định của cộng đồng, xã hội về tôn giáo, tín ngưỡng, lý tưởng. Đối với cá nhân mà nói, giá trị xã hội chính là thang đo, hệ tiêu chí để cá nhân chiếu theo đó mà lựa chọn mục tiêu cho riêng mình. Thông qua các giá trị từ giáo dục xã hội mà cá nhân có thể phán đoán các giá trị (được cho là tốt, là nên) để thực hiện và ước mơ; xây dựng cho mình các mục đích sống. Đối với nước ta, trong bối cảnh hiện nay, khi tiến hành xây dựng và phát triển đất nước; xây dựng một chính phủ liêm chính, kiến tạo; một nhà nước của dân, do dân, vì dân thì đối với người cán bộ lãnh đạo, quản lý mục tiêu cần phải được xác lập là vì nhân dân phục vụ. Đối với một công dân bình thường, cần hình thành nên ý thức cộng đồng, tương thân, tương ái. Chung tay xây dựng một đất nước phát triển trong tương lai. Thiết nghĩ, từ giác độ giáo dục và cả giác độ xã hội hóa, cần hình thành hệ giá trị xã hội tích cực để mỗi con người, cộng đồng xác định cho mình mục đích sống phù hợp.

Nội dung thứ tư, học đóng các vai trò xã hội. Xã hội hóa, từ xuất phát điểm cho đến điểm cuối cùng cũng đảm bảo cho cá nhân trở thành một thành viên xã hội hợp quy; giúp cho cá nhân nhận thức và đảm đương được nghĩa vụ, quyền lợi, trách nhiệm của mình; giúp cá nhân nắm và học đóng các vai trò xã hội. Nói cách khác, học đóng các vai trò xã hội là tiêu chí, nội dung đánh giá sự thành bại của tiến trình xã hội hóa. Học đóng các vai trò xã hội là kết quả quá trình học tập của cá nhân. Phân công xã hội làm phát sinh các vai trò xã hội khác nhau, thế nhưng vai trò mà mỗi cá nhân có được chính là kết quả của tiến trình xã hội hóa. Chẳng hạn, khi hình thành “vai trò một phụ nữ” chính là sản phẩm của xã hội chứ tuyệt nhiên không phải là sản phẩm của cấu trúc sinh lý hay sinh học[1]. Nhiều nghiên cứu cho thấy, với những quốc gia, dân tộc hay cộng đồng khác nhau thì sự kỳ vọng khác nhau về trẻ em nam và trẻ em nữ về các phương diện như: nội trợ, phục tùng, trách nhiệm, thành tựu, tính tự chủ, tính độc lập, nghề nghiệp, xu hướng chủ động trong hôn nhân, thu nhập, học tập,... Nói cách khác, mô thức vai trò của nam giới hay nữ giới[2] là kết quả hình thành từ sự kỳ vọng và giáo dục của gia đình, cộng đồng, xã hội và các thiết chế khác.

Nội dung thứ năm, hình thành cái tôi, cái cá tính độc đáo của cá nhân. Cá tính chính là tổng hòa các đặc điểm hành vi xã hội và tố chất tâm lý, sinh lý mang tính ổn định tương đối của một cá nhân, nó được hình thành và phát triển dựa vào các đặc trưng sinh lý cá nhân kết hợp với điều kiện nhất định của đời sống xã hội. Trong một quá trình đủ dài, các tố chất duy truyền của cá nhân và môi trường sống xã hội cụ thể sẽ hình thành cái độc đáo của cá nhân. Xét về đặc điểm loài, giữa cá thể (người) này với cá thể (người) khác có đặc điểm chung nhưng, thông qua quá trình xã hội hóa, vừa phát triển đặc điểm chung, vừa phát huy các nhân tố độc đáo riêng biệt để hình thành nên “cái tôi” cá nhân. Thông qua tương tác, sự đánh giá, phán xét của xã hội mà cá nhân dần ý thức được cái tôi của mình, tự điều chỉnh “cái tôi” phù hợp với “cái chúng ta”.

TS. Phạm Đi

(Tham kiến: Phạm Đi, Xã hội học với Lãnh đạo, quản lý, Nxb. Thông tin và Truyền thông, 2020)

 

 



[1] Lưu ý: Nói đến giới tính (sex, sexuality, sexual differentiation) tức là nói đến phạm trù sinh học và sinh lý học giúp phân biệt được đàn ông và phụ nữ; còn khi bàn đến giới (gender), tức là nói đến phạm trù xã hội dùng để chỉ các vai trò, thái độ và giá trị của giới tính do xã hội gán cho.

[2] Vai trò giới (gender roles) là tập hợp những khuôn mẫu hành vi, các hoạt động, quy tắc ứng xử mà nam giới và nữ giới học được trong quá trình xã hội hóa và được thể hiện trong thực tế, dựa trên sự mong đợi của xã hội đối với họ.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

PHẦN TẦNG XÃ HỘI: NỘI DUNG, BẢN CHẤT, TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN VÀ VẬN DỤNG VÀO THỰC TIỄN CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY

GIA ĐÌNH VÀ CHỨC NĂNG CỦA GIA ĐÌNH

CƠ CẤU DÂN SỐ THEO GIỚI TÍNH, ĐỘ TUỔI VÀ PHÂN BỐ DÂN CƯ