NHẬN DIỆN NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN BIẾN ĐỔI XÃ HỘI

 

NHẬN DIỆN NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN BIẾN ĐỔI XÃ HỘI

Nguyên nhân của biến đổi xã hội là gì, đó là câu hỏi đặt ra đối với nhiều nhà xã hội học trong suốt tiến trình phát triển của lịch sử xã hội học. Trong giai đoạn đầu khi mà xã hội học mới ra đời, A. Comte đã đi tìm hiểu sự tiến bộ xã hội từ nguyên nhân tinh thần (đạo đức); H. Spencer lại cho rằng tiến hóa xã hội là nguyên nhân sâu xa làm xã hội chuyển biến; các nhà học xã hội học E. Durkhiem và G. Simmel đi tìm nguyên nhân chuyển biến xã hội từ những chuyển biến về dân số; M. Weber xuất phát từ tinh thần lý tính đi giải phẩu các nguyên nhân có thể sinh ra chuyển biến xã hội; K. Marx phân tích các nguyên nhân biến đổi xã hội thông qua phương thức sản xuất và cho rằng, nguyên nhân cuối cùng của chuyển biến xã hội chính là sự phát triển của lực lượng sản xuất.

Từ nửa sau thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 bắt đầu xuất hiện quan điểm, lý luận tiến hóa xã hội. Nhà xã hội người Mỹ G. Ogburn cho rằng chuyển biến xã hội là một hiện tượng văn hóa, và do đó ông cho rằng, đi tìm kiếm nguyên nhân biến đổi xã hội nên xuất phát từ phương diện văn hóa của con người chứ không nên đi tìm kiếm từ yếu tố bản tính hay sinh lý của con người. Ông chia văn hóa thành hai loại là “văn hóa vật chất” và “văn hóa thích ứng” (ví dụ như tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo, pháp luật, chính trị,..), đồng thời ông cho rằng, loài người sau khi bước vào xã hội cận đại trở đi, do bởi các thành quả từ những phát minh mà văn hóa vật chất có sự phát triển một cách thần tốc, thế nhưng, các phương diện khác của văn hóa (văn hóa tinh thần) lại không theo kịp, mà hệ quả của nó, làm phá vỡ quan hệ cân bằng tự nhiên giữa các tầng nấc văn hóa, đó gọi là “lạc hậu văn hóa”, “tụt hậu văn hóa”. Chúng ta có thể nhận thấy, G. Ogburn đã nhấn mạnh vai trò của tiến bộ về khoa học, kỹ thuật đối với biến đổi xã hội, vì lẽ đó ông được cho là nhân vật đại diện cho học thuyết “quyết định luận kỹ thuật”.

Những người đại diện cho lý thuyết cấu trúc-chức năng mà cụ thể là T. Parsons thì cho rằng, bản chất của chuyển biến xã hội chính là sự biến đổi kết cấu xã hội và quá trình chuyển biến của nó là: phân hóa, thích ứng, dung nạp và phổ biến giá trị. Theo đó, một xã hội mà quá trình phân hóa không rõ ràng, tính thích ứng kém, mức độ dung nạp thấp, thiếu các giá trị phổ biến thì xã hội đó ở mức phát triển thấp; xã hội có mức độ phân hóa rõ ràng, tính thích ứng cao, quá trình dung nạp được hoàn thiện, phổ biến hóa các giá trị thì xã hội đó phát triển ở mức cao. Xã hội có mức phát triển thấp thường có tính đặc thù và “tự nhiên”; xã hội có mức phát triển cao thường chú trọng đến tính hiệu và phổ biến. Biến đổi xã hội tức là quá trình chuyển biến từ xã hội ở mức thấp đến xã hội ở mức cao.

Chủ nghĩa duy vật lịch sử lý giải sự chuyển biến, tiến hóa của xã hội loài người bằng sự phát triển của trình độ sản xuất. Trình độ sản xuất thay đổi khiến quan hệ sản xuất, quan hệ xã hội cũng thay đổi theo và làm cho hệ thống pháp lý và chính trị cũng biến đổi tương ứng. Chủ nghĩa duy vật lịch sử nghiên cứu xã hội với tư cách là một chỉnh thể thống nhất để vạch ra những nét chung của sự phát triển xã hội, những động lực, những nguyên nhân cơ bản của sự chuyển biến từ một hình thái kinh tế - xã hội này sang một hình thái kinh tế - xã hội khác, mối liên hệ qua lại và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa những hiện tượng khác nhau của đời sống xã hội: kinh tế, chính trị, tư tưởng v.v…

Ngoài những nhân tố mang tầm vĩ mô như trên, nguyên nhân của chuyển biến xã hội còn được xem xét từ các yếu tố mang tầm vi mô và thể hiện ở các phương diện sau:

Môi trường tự nhiên

Môi trường tự nhiên là điều kiện hết sức quan trọng thúc đẩy phát triển xã hội. Môi trường tự nhiên ở đây không đơn thuần là môi trường tự nhiên theo cách hiểu thông thường mà là, môi trường có tác động tương hỗ với con người và gồm hai loại: một là, môi trường tự nhiên chưa được con người can thiệp, cải tạo còn gọi là “môi trường tự nhiên nguyên thủy”; hai là môi trường đã được con người cải tạo và tác động trực tiếp đến đời sống con người, gọi là “môi trường tự nhiên nhân hóa”. Tác động của môi trường tự nhiên đến sự biến đổi xã hội thể hiện như một tiền đề cơ bản thúc đẩy xã hội biến đổi, là không gian sinh tồn, không gian vật chất trong quá trình tồn tại, phát triển của xã hội loài người. Do đó, một khi môi trường tự nhiên biến đổi (đủ lớn) sẽ tác động đến sự phát triển và biến đổi xã hội loài người.

Sự tác động của môi trường tự nhiên đối với các giai đoạn phát triển khác nhau của xã hội (về phương thức, mức độ) là không giống nhau. Khi mà trình độ phát triển xã hội ở mức thấp, ảnh hưởng của môi trường chủ yếu dựa vào sự phát sinh từ các quy luật tự nhiên như động đất, sóng thần. Khi mà mối quan hệ tương hỗ giữa môi trường và con người ngày càng khắng khít thì “môi trường tự nhiên nhân hóa” tác động đến xã hội ngày càng nhiều hơn. Có thể nói, môi trường trong xã hội hiện đại đều chịu tác động, cải tạo của con người, dưới sự can thiệp của con người, “môi trường tự nhiên nhân hóa” tác động đến xã hội cả hai mặt tích cực và tiêu cực. Ví dụ, việc “can thiệp” đến các dòng sông, suối để tích lũy các đập thủy điện, thủy lợi đã giúp ích cho việc phát triển sản xuất, năng lượng cho con người nhưng cũng là nguyên nhân làm mất cân bằng hệ sinh thái, nạn phá rừng, lụt lội, thậm chí ô nhiễm môi trường ảnh hưởng tiêu cực đến tiến trình phát triển xã hội mà cụ thể là các vụ thiên tai khó lường, khí hậu biến đổi theo hướng cực đoan.

Dân số

Dân số (quy mô dân số, cơ cấu dân số, chất lượng, phân bố dân cư, tăng trưởng dân số, di cư…) là điều kiện, tiền đề, động lực của biến đổi xã hội. Các yếu tố dân số có thể tác động trực tiếp hay gián tiếp, tích cực hay tiêu cực đến biến đổi xã hội. Ví dụ, quy mô dân số quá lớn là tiền đề để phát triển nhưng cũng có thể là lực cản đối với phát triển kinh tế và nâng cao chất lượng sống cho các thành viên trong xã hội; quy mô dân số nhỏ có thể dẫn đến thiếu hụt nguồn lực lao động, yếu tố quan trọng cho phát triển kinh tế, gây khó khăn nhất định đến tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa; chất lượng dân số thấp sẽ khó đáp ứng các yêu cầu đòi hỏi của khoa học kỹ thuật, một trong các nhân tố thúc đẩy phát triển kinh tế, tức là ảnh hưởng trực tiếp đến việc áp dụng khoa học công nghệ trong phát triển kinh tế; dân số phân bố không đều (nơi tập trung dân số đông, mật độ dân số cao như ở các đô thị lớn) sẽ dẫn đến vấn đề về giao thông, nhà ở, tội phạm, ô nhiễm môi trường và các “căn bệnh đô thị”[1] khác; già hóa dân số sẽ kéo theo nhiều hệ lụy về bảo đảm xã hội, vấn đề việc làm, an sinh xã hội, các vấn đề xã hội khác nảy sinh tác động đến tiến trình phát triển bình thường của xã hội.

Khoa học kỹ thuật

Khoa học kỹ thuật là động lực thúc đẩy trực tiếp đối với biến đổi xã hội. Khoa học kỹ thuật ở đây hàm chỉ toàn bộ hệ thống tri thức tồn tại độc lập với hệ thống xã hội. Sự phát triển của khoa học kỹ thuật tác động ngày càng rõ nét đến biến đổi trong đời sống xã hội con người, định hướng xu hướng phát triển, biến đổi của nhân loại. Những phát minh, sáng tạo đã làm thay đổi phương thức sống, phương thức sản xuất, mở rộng không gian sinh tồn, tác động trực tiếp đến đời sống vật chất của con người. Chẳng hạn, sự phát triển các phương tiện giao thông hiện đại và tiến bộ của truyền thông đã làm thay đổi hình thức đi lại, phương thức giao tiếp giữa con người với con người. Tốc độ phát triển của khoa học kỹ thuật làm thay đổi tốc độ biến đổi xã hội một cách trực tiếp. Do đó, có thể nói trong xã hội hiện nay, nếu xem nhẹ hoặc lược bỏ vai trò của khoa học kỹ thuật đối với biến đổi xã hội thì khó có thể nắm bắt được nội dung, bản chất của biến đổi xã hội và chắc chắn, các giải pháp đưa ra để định hướng đối với chuyển biến xã hội sẽ thiếu tính thực tiễn.

Kinh tế

Phát triển kinh tế là nhân tố quyết định đến biến đổi xã hội. Phát triển kinh tế xã hội với biến chuyển xã hội bao hàm cả sự gia tăng về của cải vật chất xã hội, cả vấn đề chất lượng cuộc sống; bao hàm cả sự biến đổi (thay đổi) phương thức sản xuất đối với các hình thái kinh tế xã hội khác nhau và cả biến đổi (thay đổi) phương thức hoạt động, cơ cấu kinh tế trong cùng một hình thái kinh tế. Từ hình thái cộng sản nguyên thủy với hình thức chủ yếu là săn bắt, hái lượm đến hình thức sản xuất và chăn nuôi và sau này là sản xuất dựa vào cơ giới hóa, đến khoa học kỹ thuật và cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, lịch sử loài người đã có chuyển biến lớn về kinh tế; đời sống xã hội, phương thức tương tác của con người biến đổi vô cùng lớn. Một ví dụ mà mỗi người Việt Nam đều cảm nhận rõ nét nhất là sau Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, nền kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp cơ bản đã chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa, đời sống xã hội của nước ta có bước chuyển biến một cách sâu sắc trên tất cả các lĩnh vực mà rõ nét nhất là lĩnh vực kinh tế-xã hội.

 Thể chế, chế độ xã hội

Thể chế, chế độ xã hội quyết định phương hướng biến đổi xã hội. Chế độ xã hội ở đây hàm chỉ hệ thống các quy phạm hành vi xã hội (quy phạm đạo đức và quy phạm pháp luật), đó là kết quả của sự biến đổi xã hội nhưng đồng thời cũng là nhân tố tác động trực tiếp đến quá trình chuyển biến xã hội. Trong các thể chế, chế độ xã hội khác nhau, ngoài thể chế kinh tế, thể chế và chế độ chính trị có vai trò hết sức quan trọng đến biến đổi xã hội. Thể chế chính trị là môi trường thuận lợi cho việc thúc đẩy phát triển kinh tế nếu nó phù phợp và tiến bộ, ngược lại nó chế ước thậm chí kéo lùi tốc độ phát triển kinh tế. Chính lẽ đó, giải quyết tốt mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị là nhiệm vụ quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội.[2] Thể chế chính trị không những tác động đến chiều hướng và tốc độ phát triển kinh tế mà còn ảnh hưởng đến quan niệm giá trị của con người, đến quan hệ giữa con người với con người cũng như tác động đến lối sống của cộng đồng dân cư. Sự ổn định chính trị, trong những điều kiện nhất định, quyết định đến quá trình và phương hướng biến đổi xã hội.

Văn hóa, quan niệm giá trị xã hội

Văn hóa, quan niệm giá trị có vai trò định hướng đối với quá trình chuyển biến xã hội. Bất luận là biến đổi bộ phận hay biến đổi toàn diện xã hội đều xuất phát từ những tư tưởng mới. Biến đổi trong lĩnh vực văn hóa có thể độc lập tương đối nhưng không thể tách rời đối với kinh tế, chính trị. Biến đổi văn hóa chủ yếu là chuyển biến trong quan niệm giá trị, đặc biệt là hình thái ý thức của các nhóm và xã hội; biến đổi trong mô thức nhận thức: thế giới quan, nhân sinh quan. Ngoài ra, biến đổi văn hóa cũng có thể do quá trình tiếp biến văn hóa với các nền văn hóa khác nhau. Quan niệm giá trị chuyển biến chủ yếu là hệ tư tưởng và quy phạm hành vi của con người. Hoạt động sống của con người thường được định hướng bởi các quan niệm giá trị, do đó, quan niệm giá trị và hình thái ý thức là một trong những nhân tố cơ bản cấu thành thể chế, chế độ xã hội. Chính lẽ đó sự biến đổi trong quan niệm giá trị xã hội chính là phương hướng cơ bản của biến đổi xã hội. Đương nhiên, cần phải nhìn nhận rằng, tác động đến biến đổi xã hội còn rất nhiều nguyên tố khác nhau, chẳng hạn sự vận động xã hội, xung đột quân sự, chiến tranh,… Hơn nữa, tốc độ chuyển biến xã hội nhanh hay chậm còn phụ thuộc vào cả nhân tố khách quan và chủ quan.

TS. Phạm Đi

(Tham kiến: Phạm Đi, Xã hội học với Lãnh đạo, quản lý, Nxb. Thông tin và Truyền thông, 2020)



[1] Xem: Phạm Đi, Quản lý đô thị - một góc nhìn, Nxb ĐHQG TP.HCM, 2017.

[2] Xem: GS. TS. Dương Xuân Ngọc, Quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia-Sự thật, H.2019.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

PHẦN TẦNG XÃ HỘI: NỘI DUNG, BẢN CHẤT, TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN VÀ VẬN DỤNG VÀO THỰC TIỄN CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY

GIA ĐÌNH VÀ CHỨC NĂNG CỦA GIA ĐÌNH

CƠ CẤU DÂN SỐ THEO GIỚI TÍNH, ĐỘ TUỔI VÀ PHÂN BỐ DÂN CƯ