MỘT SỐ VẤN ĐỀ DÂN SỐ CỦA VIỆT NAM

 

MỘT SỐ VẤN ĐỀ DÂN SỐ CỦA VIỆT NAM

Quá trình hình thành của vấn đề dân số không phải một sớm một chiều, vấn đề dân số ở nước ta hiện nay được hình thành và tồn tại trong suốt quá trình lịch sử phát triển của dân tộc và có mối liên hệ mật thiết với thể chế kinh tế, với chính sách kế hoạch hóa gia đình và cả quan niệm về sinh đẻ của cộng đồng dân cư, do đó, khi nghiên cứu và phân tích vấn đề dân số cần phải xem xét, phân tích cần phải đặt yếu tố dân số trong mối tương quan với các yếu tố khác như văn hóa, lịch sử, kinh tế, chính trị. Vấn đề dân số rất rộng, nội dung phong phú, tính chất phức tạp. Do đó, dưới đây chúng ta chỉ xem xét và phân tích một số phương diện chủ yếu của vấn đề dân số.

Thứ nhất, vấn đề số lượng dân số. Theo Tổng cục thống kê, tổng số dân của Việt Nam tính đến 0 giờ ngày 01/4/2019 là 96.208.984 người, trong đó, dân số nam là 47.881.061 người, chiếm 49,8% và dân số nữ là 48.327.923 người, chiếm 50,2%. Tổng số hộ dân cư trên cả nước là 26.870.079 hộ dân cư, tăng 4,4 triệu hộ so với cùng thời điểm năm 2009. Bình quân mỗi hộ có 3,6 người/hộ, thấp hơn 0,2 người/hộ so với năm 2009. Trong giai đoạn 2009 - 2019, tỷ lệ tăng bình quân số hộ dân cư là 1,8%/năm, thấp hơn 1,2 điểm phần trăm so với giai đoạn 1999 - 2009 và là giai đoạn có tỷ lệ tăng số hộ dân cư thấp nhất trong vòng 40 năm qua. Mật độ dân số của Việt Nam là 290 người/km2, tăng 31 người/km2 so với năm 2009. Việt Nam là quốc gia có mật độ dân số đứng thứ ba trong khu vực Đông Nam Á, sau Phi-li-pin (363 người/km2) và Xin-ga-po (8.292 người/km2).

Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ là hai vùng có mật độ dân số cao nhất toàn quốc, tương ứng là 1.060 người/km2 và 757 người/km2. Trung du và miền núi phía Bắc và Tây Nguyên là hai vùng có mật độ dân số thấp nhất, tương ứng là 132 người/km2 và 107 người/km2. Tỷ số giới tính của dân số là 99,1 nam/100 nữ. Trong đó, tỷ số giới tính khu vực thành thị là 96,5 nam/100 nữ, khu vực nông thôn là 100,4 nam/100 nữ. Tỷ số giới tính có sự khác biệt theo các nhóm tuổi, tuổi càng cao tỷ số giới tính càng thấp, cao nhất ở nhóm 0-4 tuổi (110,3 nam/100 nữ) và thấp nhất ở nhóm từ 80 tuổi trở lên (48,6 nam/100 nữ). Tỷ số giới tính gần như cân bằng ở nhóm 45-49 tuổi (100,2 nam/100 nữ) và bắt đầu giảm xuống dưới 100 ở nhóm 50-54 tuổi (95,9 nam/100 nữ).

Tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên đã từng kết hôn là 77,5%. Có vợ/có chồng là tình trạng hôn nhân phổ biến với 69,2% dân số từ 15 tuổi trở lên đang có vợ/chồng. Tuổi kết hôn trung bình lần đầu là 25,2 tuổi, tăng 0,7 tuổi so với năm 2009, trong đó nam giới kết hôn muộn hơn nữ giới 4,1 năm (tương ứng là 27,2 tuổi và 23,1 tuổi).

Tổng tỷ suất sinh (TFR) là 2,09 con/phụ nữ, dưới mức sinh thay thế. Điều này cho thấy Việt Nam vẫn duy trì mức sinh ổn định trong hơn một thập kỷ qua, xu hướng sinh hai con ở Việt Nam là phổ biến. TFR của khu vực thành thị là 1,83 con/phụ nữ; khu vực nông thôn là 2,26 con/phụ nữ. Phụ nữ có trình độ đại học có mức sinh thấp nhất (1,85 con/phụ nữ), thấp hơn khá nhiều so với phụ nữ chưa bao giờ đi học (2,59 con/phụ nữ). Thành phố Hồ Chí Minh là địa phương có mức sinh thấp nhất cả nước (1,39 con/phụ nữ), Hà Tĩnh là tỉnh có mức sinh cao nhất (2,83 con/phụ nữ).

Trong những năm gần đây, nhiều người không còn quan tâm nhiều đến vấn đề về số lượng, quy mô dân số bởi cho rằng “đã đạt mức sinh thay thế”. Tuy nhiên, cần phải nhìn nhận rằng, khi xem xét số lượng và quy mô dân số của một quốc gia ở một thời điểm nhất định cần phải luôn xem xét trong mối tương quan với trình độ phát triển kinh tế-xã hội và mức độ đáp ứng của nguồn lực tự nhiên như nguồn nước bình quân đầu người, diện tích đất (và diện tích đất canh tác) bình quân đầu người, diện tích rừng dự phòng bình quân đầu người. Do đó, không phải ngẫu nhiên mà nhiều người vẫn có nhận định: “Đến nay Việt Nam vẫn là quốc gia ‘đất chật, người đông’, có quy mô dân số rất lớn, mật độ dân số rất cao (260 người trên 1km2, gần gấp đôi Trung Quốc). Tỉ lệ sinh đẻ ở nông thôn vẫn cao hơn thành thị, dẫn đến nguy cơ tỷ lệ sinh cao có thể tăng trở lại”[1].

Thứ hai, vấn đề chất lượng dân số. Trong thời gian qua, nhìn một cách bao quát thì chất lượng dân số của Việt Nam được cải thiện đáng kể. Tuy nhiên, nói đến chất lượng dân số nhiều người thường chỉ nghĩ đến tuổi thọ trung bình, chiều cao trung bình (nam, nữ), cùng lắm thì bàn đến mức độ thụ hưởng giáo dục, y tế. Nếu chỉ dừng lại ở đó thì quả là một thiếu sót lớn. Bởi chất lượng dân số là toàn bộ các đặc tính sinh y học – duy truyền và tâm lý – xã hội của con người, mức độ phát triển các khả năng trí tuệ, tiện nghi tâm sinh lý của đời sống, cơ chế tái tạo tiềm lực trí tuệ của xã hội[2]. Nói cách khác, khi nói đến “chất lượng dân số” cần phải xem xét trên các bình diện tư tưởng, văn hóa, sức khỏe (gắn với đức, trí, thể).

Về khía cạnh tư tưởng, bao gồm thế giới quan, đạo đức xã hội, ý thức pháp luật, hành vi tư tưởng, đều có tính xã hội hết sức rõ ràng và chi phối đến hành vi, ý thức của con người rất lớn. Một số chỉ tiêu trực tiếp và gián tiếp để “cân đo” khía cạnh tư tưởng gồm: mức độ trung thành với tổ quốc, kính già yêu trẻ, tôn trọng và tuân thủ các quy định nơi công cộng; tỷ lệ người nghiện hút so với tổng số dân số, tỷ lệ thanh thiếu niên phạm tội trong tổng số dân số…Cùng với tiến trình đổi mới của đất nước, các trào lưu tư tưởng (cả tốt và không tốt) đã và đang thâm nhập vào đời sống của mọi người dân, trong đó có chủ nghĩa kim tiền, chủ nghĩa hưởng lạc, chủ nghĩa cực đoan, chủ nghĩa hư vô và cả những hành vi mê tín đã trực tiếp tác động đến tư tưởng, hành vi của nhiều người. Với thực tế đó, vấn đề giáo dục cho công dân nói chung, cho tầng lớp thanh thiếu niên nói riêng có những định hướng đúng, có nếp sống văn hóa, văn minh đã trở thành một nhiệm vụ quan trọng của toàn hệ thống chính quyền mà trực tiếp là các nhà quản lý xã hội.

Về khía cạnh văn hóa, đó chính là năng lực nhận thức và vận dụng các tri thức văn hóa, khuôn mẫu chuẩn mực văn hóa thông qua quá trình xã hội hóa. Tỷ lệ người mù chữ, tỷ lệ người đã phổ cập giáo dục trên tổng số dân số; tỷ lệ nhân viên kỹ thuật, lao động đã qua đào tạo trên tổng số dân số… các tiêu chí phản ánh khía cạnh tố chất văn hóa của dân số. Từ sau đổi mới đến nay, tố chất văn hóa của nhân dân ngày càng được nâng cao, tuy nhiên vẫn còn một số vấn đề bất cập về công tác đầu tư cho giáo dục, bất bình đẳng giáo dục giữa các vùng miền, giữa thành thị và nông thôn còn cao; con người với tư cách là nguồn lực phát triển của xã hội vẫn chưa chú trọng đúng mức, việc nâng cao tố chất nhân dân chưa được xem là trọng điểm trong công tác giáo dục. Do đó, trong thời gian gần đây, nhiều vấn đề xã hội liên quan đến tố chất con người thông qua giáo dục đã bộc lộ: bạo hành trẻ em, bạo lực gia đình, bạo lực học đường, thanh thiếu niên vi phạm pháp luật…

Về khía cạnh sức khỏe, đây là cơ sở và điều kiện tự nhiên của tố chất dân số, chỉ tình trạng phát triển sinh lý của con người. Tiêu chuẩn để “cân đo” tình trạng sức khỏe dân số đó là chiều cao, cân nặng, tỷ trọng người tàn tật trên tổng số dân số, tỷ trọng người có bệnh di truyền trên tổng số dân số, tỷ xuất trẻ em sơ sinh chết thô, tuổi thọ trung bình của dân số…

Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới, tuổi thọ của người Việt Nam trong những thập kỷ qua liên tục tăng, nếu năm 1960 tuổi đời của người Việt trung bình chỉ đạt 40 năm (thế giới là 48 năm) thì đến nay tuổi thọ của người Việt đã tăng lên 73,2 (tỷ lệ người trên 65 tuổi chiếm gần 7% dân số) vượt tuổi thọ trung bình của thế giới (trung bình thế giới là 69 tuổi). Dự báo, đến năm 2050, tuổi thọ trung bình của người Việt sẽ tăng lên 80,4 tuổi[3].

Tuy nhiên, về khía cạnh sức khỏe dân số mà nói, vẫn còn nhiều vấn đề bất cập, phát sinh, trong đó “Tỷ lệ suy dinh dưỡng, tử vong bà mẹ, trẻ em còn cao. Tầm vóc, thế lực của người Việt Nam chậm được cải thiện. Tuổi thọ bình quân tăng nhưng số năm sống khỏe mạnh thấp so với nhiều nước. Tình trạng tảo hôn, kết hôn cận huyết thống còn phổ biến ở một số dân tộc ít người”. Thống kê y tế chỉ ra, khoảng 95% người cao tuổi có bệnh, chủ yếu là bệnh mạn tính không lây. Do điều kiện kinh tế khó khăn, thiếu sự hỗ trợ của gia đình và xã hội nên chỉ có 13% người cao tuổi ở nông thôn bị đau ốm, chấn thương trong 12 tháng được điều trị bởi cán bộ y tế[4].

Thứ ba, vấn đề cơ cấu dân số. Theo những tiêu chuẩn phân loại khác nhau chẳng hạn như nhóm tuổi, giới tính, vùng phân bố… các nhà khoa học tiến hành xem xét yếu tố cơ cấu dân số để phát hiện các vấn đề dân số về cơ cấu.

Cơ cấu tuổi của dân số là tỷ trọng của một nhóm tuổi nào đó trong tổng số dân số trong một thời điểm nhất định, nó là kết quả tổng hợp giữa yếu tố sinh, chết và di cư, trình độ phát triển kinh tế-xã hội của một cộng đồng dân số nhất định, thông thường người ta chia ra làm 3 loại chính đó là cơ cấu dân số trẻ, cơ cấu dân số trung niên, cơ cấu dân số già. Theo nhiều nghiên cứu, Việt Nam đã bước vào giai đoạn già hóa dân số vào năm 2011[5]. Già hóa dân số là tiến trình dân số không thể tránh khỏi của mọi quốc gia trên thế giới trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội, tuy nhiên, vấn đề ở đây là, Việt Nam đang trong thời kỳ dân số vàng nhưng cũng đồng thời bước vào thời kỳ già hóa dân số trong khi chúng ta chưa thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình. Rõ ràng đây là vấn đề dân số cần phải nhìn nhận và đánh giá một cách khoa học và có chính sách hợp lý.

Cơ cấu giới tính của dân số chỉ tỷ trọng số nam/nữ trong tổng số dân số của một khu vực, một quốc gia trong một thời điểm nhất định; tỷ số giới tính sau khi sinh (tỷ số trẻ em nam/trẻ em nữ). Mất cân bằng giới tính sau sinh đang là vấn đề cần quan tâm giải quyết. Thống kê chuyên ngành dân số cũng cho biết 18 tỉnh, thành hiện có tỷ số giới tính khi sinh giảm so với năm 2015, nhưng vẫn còn 45 tỉnh, thành có tỷ số này tăng và ở mức cao đáng báo động (từ 115 trẻ trai/100 trẻ gái). Trong đó, 10 tỉnh có tỷ lệ mất cân bằng giới tính khi sinh cao nhất gồm: Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Ninh, Bắc Giang, Nam Định, Hòa Bình, Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Quảng Ninh, Quảng Ngãi. Trong số này, có địa phương tỷ số giới tính khi sinh lên đến 120 trẻ trai/100 trẻ gái.

Theo số liệu của Tổng cục thống kê, tỷ lệ giới tính trẻ em mới sinh (số bé trai/100 bé giá) trên phạm vi toàn quốc có chiều hướng gia tăng trong những năm gần đây: năm 2010 là 112,2; năm 2015 là 112,8; năm 2016 là 112,2; năm 2017 là 112,1 và năm 2018 là 114,8[6]. Rõ ràng, mất cân bằng giới tính khi sinh sẽ dẫn đến tình trạng “thừa nam, thiếu nữ” trong tương lai, làm biến đổi chỉ số nhân khẩu học, tác động đến cuộc sống của cá nhân, gia đình và toàn xã hội. Việc lựa chọn giới tính thai nhi dẫn đến bỏ thai - sẽ ảnh hưởng sức khỏe, đường sinh sản của phụ nữ.

Tình trạng mất cân bằng giới tính sau khi sinh còn làm thay đổi cấu trúc dân số; tan vỡ cấu trúc gia đình cũng như nhiều hệ lụy khác: phụ nữ kết hôn sớm; tỷ lệ ly hôn, tái hôn của phụ nữ sẽ tăng cao; tăng bất bình đẳng giới. Thậm chí sẽ thiếu hụt lao động tại nhiều ngành nghề như: giáo viên mầm non và tiểu học, hộ lý, y tá nữ... Nguy cơ gia tăng tệ nạn mại dâm, buôn bán phụ nữ, trẻ em. Các chuyên gia dân số ước tính, nếu không can thiệp mất cân bằng giới tính khi sinh, đến 2050 Việt Nam sẽ dư 2,3 - 4 triệu nam giới[7].

Do đó, trong thời gian đến cần phải tăng cường công tác truyền thông, giáo dục, vận động để nâng cao nhận thức, chuyển đổi hành vi; thực hiện các chính sách hỗ trợ nữ giới, hỗ trợ những gia đình sinh con một bề là nữ; tăng cường thực thi pháp luật về nghiêm cấm lựa chọn giới tính thai nhi. Điều kiện tiên quyết phải tăng cường cam kết chính trị, sự quan tâm vào cuộc của hệ thống chính trị trong việc giải quyết vấn đề mất cân bằng giới tính khi sinh; tăng cường và ưu tiên nguồn lực cho việc giải quyết các mục tiêu về mất cân bằng giới tính khi sinh, giải quyết vấn đề cơ cấu giới tính bất hợp lý.

Thứ tư, vấn đề già hóa dân số. Hiện nay, Việt Nam có khoảng 10,1 triệu người cao tuổi, chiếm 11% dân số. Riêng số người từ 80 tuổi trở lên là hai triệu người. Dự báo đến năm 2030, tỷ trọng người cao tuổi Việt Nam chiếm 18% và năm 2050 là 26%. Nếu như các nền kinh tế phát triển mất vài thập kỷ, thậm chí hàng thế kỷ để chuyển từ giai đoạn già hóa dân số sang giai đoạn dân số già thì với tốc độ già hóa như hiện nay, Việt Nam chỉ mất 15 năm[8]. Như vậy, Việt Nam là một trong những quốc gia có tốc độ già hóa dân số thuộc loại nhanh trên thế giới. Ở một khía cạnh nào đó mà nói, điều này thể hiện sự tiến bộ về lĩnh vực y tế, trình độ giáo dục được nâng cao, trình độ phát triển kinh tế-xã hội mà trực tiếp là điều kiện sống tốt hơn. Về khía cạnh y tế mà nói, đã có bước tiến trong vệ sinh an toàn thực phẩm, các bệnh truyền nhiễm được dự phòng và khống chế tốt, tỷ suất chết ở mức thấp. Từ cơ sở đó có thể khẳng định, già hóa dân số là xu thế tất yếu của sự tiến bộ trong tiến trình phát triển của nhân loại mà Việt Nam không phải là ngoại lệ.

Về hình thức biểu hiện, già hóa dân số ở nước ta và già hóa dân số ở một số quốc gia trên thế giới không khác nhau mấy mà nguyên nhân chủ yếu của nó là tỷ suất sinh giảm. Thế nhưng, do bởi môi trường kinh tế, hoàn cảnh xã hội, thực trạng nhân khẩu, các chính sách về dân số giữa nước ta với các nước phát triển là khác nhau nên thời gian, quá trình, xu thế già hóa dân số cũng khác xa nhau.

Theo tính toán của Liên hiệp quốc, đến năm 2050 Việt Nam sẽ bước vào dân số “siêu già”. Đồng thời với đặc điểm dân số ở nước ta mang lại nhưng khó khăn và thách thức không nhỏ: Trên 70% người cao tuổi sống với con cháu trong khi xu hướng cấu trúc gia đình có thay đổi (quy mô gia đình nhỏ); đời sống vật chất còn khó khăn với 68,2% ở nông thôn, 70% không có tích lũy vật chất, 18% nghèo; hệ thống bảo trợ, an sinh xã hội chưa đủ đáp ứng: chỉ có 30% có lương hưu hoặc trợ cấp từ ngân sách nhà nước; sức khỏe người cao tuổi còn nhiều hạn chế trong khi hệ thống chăm sóc sức khỏe người cao tuổi chưa bắt kịp với sự thay đổi này[9].

Như vậy, già hóa dân số là một trong những thành tựu vĩ đại của loài người, người cao tuổi là nguồn lực mới cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, vấn đề già hóa dân số có những tác động tiêu cực nếu không có chính sách kịp thời, phù hợp. Già hóa dân số với tốc độ nhanh sẽ tác động trực tiếp đến nguồn lao động hiện hữu và trong tương lai; tác động đến mô thức gia đình truyền thống của Việt Nam; ảnh hưởng đến cơ cấu ngành nghề hiện hữu và nhiều khía cạnh khác của đời sống.

Thiết nghĩ, trong tương lai gần, Việt Nam cần xây dựng hệ thống chăm sóc sức khỏe người cao tuổi trên toàn quốc, xây dựng các mô hình chăm sóc người già tại gia đình và cộng đồng; đảm bảo an sinh xã hội: cải cách cơ cấu hệ thống bảo trợ xã hội, mở rộng độ bao phủ của bảo hiểm hưu trí, y tế; khuyến khích việc làm cho người cao tuổi, tuổi nghỉ hưu, tiếp cận vốn vay...

Thứ năm, vấn đề di dân và đô thị hoá. Kết quả điều tra biến động dân số và Kế hoạch hóa gia đình năm 2016 của Tổng cục thống kê (2017) cho thấy xu hướng di cư thành thị - thành thị vẫn là xu thế lớn nhất với tỷ trọng trong các luồng di cư đạt 41,9%. Tiếp theo là nông thôn - nông thôn 27,2%, nông thôn - thành thị 20,1% và thành thị - nông thôn: 10,2%. Hai vùng có tỷ suất di cư thuần dương đó là Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Hồng. Đồng bằng sông Cửu Long vẫn là vùng dẫn đầu trong cả nước về số người chuyển đi (hơn 100 nghìn người), Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung đứng thứ hai với hơn 58 nghìn người, Trung du và miền núi phía Bắc là vùng đứng thứ ba với gần 40 nghìn người.Việc di cư từ nông thôn ra thành thị đã và đang gây áp lực không nhỏ đối với hệ thống cơ sở hạ tầng, dịch vụ xã hội, nhà ở... Một trong những bất cập mà hằng ngày người dân các đô thị lớn phải "chung sống" là nạn kẹt xe, ô nhiễm môi trường. Ngoài ra, tình trạng gia tăng dân số cơ học quá nhanh ở các đô thị lớn cũng khiến công tác quản lý dân cư gặp không ít khó khăn. Càng ở những đô thị lớn, sức hút đối với dòng di cư từ nông thôn càng mạnh mẽ. Thực trạng này đã và đang khiến một số đô thị phải gánh chịu nhiều sức ép về dân số và nghèo đói.

Phạm Đi



[1] Chi cục dân số và kế hoạch hóa thành phố Hải Phòng, Dân số Việt Nam: thực trạng và thách thức. http://www.haiphong.gov.vn/Portal/Detail.aspx?Organization=CCDS&MenuID=5091&ContentID=26450. Cập nhật ngày 8 tháng 12 năm 2016. 

[2] Nguyễn Trần Quế, Những vấn đề toàn cầu ngày nay, Nxb Khoa học xã hội, H1999, tr.88.

[4] Xem: Nghị quyết số 21/NQ-TW ngày 25 tháng 10 năm 2017 về  Công tác dân số trong tình hình mới.

[6] Tổng cục thống kê, Niên giám thống kê năm 2018, tr.105.

[7] Báo Thanh niên, Báo động mất cân bằng giới tính ở Việt Nam. Xem: https://thanhnien.vn/doi-song/bao-dong-mat-can-bang-gioi-tinh-o-viet-nam-850206.html.  Cập nhật ngày 11 tháng 2 năm 2017.

[8] Báo Nhân dân, Việt Nam đang có tốc độ già hóa dân số nhanh. Tham kiến:  http://www.nhandan.com.vn/suckhoe/item/33489902-viet-nam-dang-co-toc-do-gia-hoa-dan-so-nhanh.html. Cập nhật ngày 11tháng 2 năm 2017.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

PHẦN TẦNG XÃ HỘI: NỘI DUNG, BẢN CHẤT, TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN VÀ VẬN DỤNG VÀO THỰC TIỄN CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY

GIA ĐÌNH VÀ CHỨC NĂNG CỦA GIA ĐÌNH

CƠ CẤU DÂN SỐ THEO GIỚI TÍNH, ĐỘ TUỔI VÀ PHÂN BỐ DÂN CƯ