MỘT SỐ LĨNH VỰC CHỦ YẾU TRONG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI

 

MỘT SỐ LĨNH VỰC CHỦ YẾU TRONG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI

Do điều kiện phát triển và thể chế chính trị không giống nhau nên chính sách xã hội ở các quốc gia trên thế giới cũng có những điểm khác biệt nhất định. Thế nhưng, nhìn một cách tổng thể, chính sách xã hội mà các quốc gia đã ban hành và thực thi chủ yếu tập trung vào các phương diện sau:

Chính sách bảo đảm xã hội

Hiện tại, đa số các quốc gia trên thế giới đều coi trọng chính sách bảo đảm xã hội[1], thậm chí xem đây là nền tảng quan trọng trong hệ thống chính sách xã hội của mình, là bộ phận tổ thành trọng yếu của hệ thống chính sách công nói chung, chính sách xã hội nói riêng. Bản thân chính sách bảo đảm xã hội cũng gồm nhiều chính sách cụ thể nhằm cung cấp và đảm bảo đời sống tối thiểu, cơ bản nhất cho các thành viên trong xã hội. Tùy theo điều kiện, hoàn cảnh của mỗi quốc gia mà phạm vi và đối tượng thụ hưởng chính sách bảo đảm xã hội cũng khác nhau. Chẳng hạn, đối với một số quốc gia, chủ yếu nhắm đến đối tượng nghèo đói bằng trợ giúp sinh kế và tài chính; bảo hiểm cho người cao tuổi không có nguồn thu nhập; bảo hiểm y tế hay cứu trợ xã hội. Từ ý nghĩa đó mà nói, bảo đảm xã hội chính là kế hoạch “duy trì thu nhập” cho các nhóm đối tượng. Cụ thể, thông qua chính sách công, chính phủ có kế hoạch nhằm đảm bảo đời sống cơ bản cho đối tượng không có nguồn thu nhập mà bản thân họ và gia đình họ không thể đảm bảo được, giúp họ vươn lên và hòa nhập vào xã hội. Đối với các quốc gia phát triển, bảo đảm xã hội còn hướng đến cung cấp điều kiện chăm sóc sức khỏe, nhà ở hoặc các nhu cầu cơ bản khác.

Chính sách y tế công cộng

Chính sách y tế công cộng chính là các hành động của nhà nước (hoặc các tổ chức được nhà nước giao quyền) nhằm cung cấp các dịch vụ y tế công cộng cơ bản[2], tăng cường bảo vệ, ngăn ngừa dịch và sự lây lan bệnh[3], chăm sóc sức khỏe cho nhân dân[4]. Tính dự phòng, tính phục vụ, tính phi lợi nhuận là đặc trưng cơ bản của chính sách y tế công cộng, do đó, chủ thể chủ yếu vẫn là nhà nước (ban hành chính sách, đầu tư nguồn lực vật chất và con người, tổ chức thực hiện, kiểm tra giám sát,...). Trong đó, việc đầu tư để ứng dụng khoa học công nghệ vào lĩnh vực y tế, dự báo tình hình dịch bệnh, khi có dịch bệnh thì huy động các nguồn lực để phòng chống là các nhiệm vụ cốt lõi của chính sách y tế công cộng.

Chính sách nhà ở xã hội

Chính sách nhà ở xã hội (hay còn gọi là chính sách nhà ở công) là việc nhà nước (hoặc các tổ chức được nhà nước giao quyền) tiến hành xây dựng (hoặc hỗ trợ chi phí xây dựng) các loại nhà ở (căn hộ) mang tính phúc lợi để cung cấp (hoặc bán) cho các đối tượng thụ hưởng. Đối với quốc gia có nguồn quỹ đất hạn hẹp hay các đô thị lớn thì đây là biện pháp hữu hiệu giải quyết vấn đề nhà ở cho cư dân, trong đó nhóm có ưu tiên cho đối tượng thu nhập thấp. Trong quá trình đô thị hóa và chỉnh trang đô thị của nhiều quốc gia cho thấy, làm tốt chính sách nhà ở công cộng chính là góp phần giải quyết các vấn đề xã hội, tạo nên bộ mặt văn minh đô thị, từng bước tạo công bằng xã hội. Nhiều đối tượng, nhất là nông dân mất đất trong quá trình đô thị hóa, khi phải chuyển đổi nghề nghiệp lại phải giải quyết vấn đề nhà ở nếu không có sự hỗ trợ của chính quyền thì khó lòng giải quyết được (giá đền bù thấp lại phải mua đất, xây nhà mới; tìm sinh kế). Do vậy, đối với nhiều quốc gia và đô thị lớn, chính sách nhà ở xã hội là một trong những chính sách quan trọng mang tính chiến lược của chính quyền.

Chính sách giáo dục công

Chính sách giáo dục công hàm chỉ hành động của nhà nước và các cơ quan chức năng nhằm cung cấp các dịch vụ giáo dục cho công dân. Vì tính quan trọng và ý nghĩa đặc biệt của giáo dục đối với mỗi con người, tổ chức, quốc gia, dân tộc, cho nên thời gian, mức độ tiếp cận giáo dục cũng là tiêu chí đánh giá trình độ phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc. Từ ý nghĩa đó nhìn nhận, chính phủ là chủ thể có trách nhiệm đối với các chính sách giáo dục quốc dân, đó cũng là chiến lược của mỗi quốc gia nhằm hướng đến công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Cần phải nhìn nhận rằng, giáo dục là lĩnh vực có “vốn đầu tư” lớn nhưng kết quả thu lại không phải  một sớm một chiều nhưng đó là nhiệm vụ bắt buộc.

Giáo dục giúp hình thành nhân cách cho con người, nâng cao giá trị vốn con người và tạo ra giá trị lớn cho nhân loại. Chính lẽ đó, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có chiến lược giáo dục và chính sách giáo dục công; ngân sách đầu tư cho giáo dục công luôn được chú trọng; tạo công bằng trong cơ hội khi tiếp cận với dịch vụ giáo dục công. Để thực hiện điều đó, chính phủ ngoài đầu tư cơ sở hạ tầng dành cho giáo dục, hình thành đội ngũ nhà giáo chuyên nghiệp để truyền cảm hứng cho thế hệ trẻ, hình thành ý thức học tập trong cộng đồng. Đặc biệt, đối với các vùng khó khăn, miền núi, vùng hải đảo và các đối tượng yếu thế thì nhà nước có kế hoạch đầu tư đặc biệt, hỗ trợ (hoặc miễn phí) để họ tiếp cận được với giáo dục cơ bản. Hiện nay, nhiều học giả cho rằng, chính sách giáo dục công (ở tầm vĩ mô) bao hàm chính sách quy hoạch phát triển giáo dục, điều chỉnh cơ cấu giáo dục, định hình các nội dung giáo dục và chế độ học tập, các chính sách đãi ngộ cho đội ngũ giáo viên,…

Chính sách lao động, việc làm

Chính sách lao động việc làm là tất cả những hành động của chính phủ và các cơ quan chức năng nhằm cung cấp cơ hội việc làm cho xã hội; phân phối cơ hội việc làm cho các vùng miền, lĩnh vực; đào tạo nâng cao kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp; giải quyết vấn đề thất nghiệp và bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động. Trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư thì vấn đề lao động, việc làm chiếm vai trò trọng yếu. Bởi lẽ, không thể thực hiện tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước mà không có nguồn lực con người; không có lực lượng lao động chất lượng cao, đáp ứng tốt các yêu cầu phát triển. Hơn thế nữa, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đòi hỏi năng lực và trí tuệ hơn là nguồn vốn hay tài nguyên thiên nhiên đơn thuần. Chính cuộc cách mạng công nghiệp này, một mặt, tạo nên nguồn lực to lớn cho xã hội, thúc đẩy xã hội phát triển một cách nhanh chóng, thậm chí là thần tốc; nhưng mặc khác, lại là thách thức đối với nhân loại về lĩnh vực lao động, việc làm[5].

Vấn đề lớn nữa cần phải nhìn nhận, trong quá trình công nghiệp hóa, nhu cầu sử dụng lao động gia tăng và đồng thời với nó là vấn đề sa thải, thất nghiệp cũng theo đó mà phát sinh. Những xung đột lợi ích giữa giới chủ (người sử dụng lao động) với người làm công (người lao động) có xu hướng gia tăng[6], do đó, chính phủ và các cơ quan chức năng cần chú trọng hơn chính sách lao động, việc làm trong đó cần chế định những chính sách tương ứng nhằm bảo vệ quyền lực hợp pháp, chính đáng cho các bên, giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa người sử dụng lao động với người lao động.

Chính sách đối với các nhóm đặc thù, nhóm yếu thế

Chính sách xã hội hiện đại có rất nhiều nội dung, hướng vào phục vụ cho tất cả các thành viên trong xã hội trong những điều kiện nhất định, tuy nhiên, trong hệ thống chính sách xã hội có một số chính sách hướng vào các nhóm đặc thù, nhóm yếu thế. Chẳng hạn chính sách dành cho người cao tuổi, chính sách đối với trẻ em, người tàn tật, phụ nữ, chính sách đối với người di cư,…Những nhóm xã hội này hoặc là nhu cầu được phục vụ có tính đặc thù, hoặc là yếu thế hơn so với đại đa số trên bình diện tâm-sinh lý, kinh tế, xã hội và cần được sự bảo trợ của xã hội. Chính lẽ đó, hầu hết các quốc gia đều có động thái (thể hiện bằng chính sách và chương trình hành động) đối với các nhóm đặc thù, nhóm yếu thế, từng bước thỏa mãn nhu cầu cơ bản và giúp họ hòa nhập vào xã hội.

Phạm Đi



[1] Theo tiếng Anh, từ “Social Security” có nghĩa là “an ninh xã hội” do đó, tùy theo cách tiếp cận, nhiều học giả Việt Nam đã sử dụng những thuật ngữ tương tự như: bảo đảm xã hội, bảo trợ xã hội, an ninh xã hội, an toàn xã hội, an sinh xã hội,… Nghiêm túc mà nói, nội hàm và ngoại diên của các thuật ngữ trên không hoàn toàn giống nhau. Trong cuốn sách này, tác giả sử dụng “bảo đảm xã hội” gần với nghĩa “an sinh xã hội” nhất.

[2] Các dịch vụ y tế công cộng cơ bản gồm: (1) Giám sát, theo dõi tình trạng sức khỏe nhằm nhận ra các vấn đề sức khỏe cộng đồng; (2) Chẩn đoán và điều tra các vấn đề sức khỏe và các mối nguy sức khỏe cộng đồng; (3) Thông tin, truyền thông, giáo dục về các vấn đề sức khỏe cộng đồng.

[3] Ngăn ngừa dịch và sự lây lan bệnh gồm: (1) Bảo vệ khỏi các mối nguy môi trường; (2) Phòng ngừa các thương tổn; (3) Động viên và khuyến khích các hành vi có lợi cho sức khỏe; (4) Đáp ứng được các thảm họa và đảm bảo sự hồi phục của cộng đồng; (5) Bảo đảm đạt được chất lượng dịch vụ y tế.

[4] Chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng cần phải tiến hành nghiên cứu để xác định các nhu cầu về sức khỏe gồm: (1) Chọn ra vấn đề sức khỏe ưu tiên bằng phân tích đánh giá hệ quả sau cùng; (2) Phát triển các chính sách và lập kế hoạch công bố các nhu cầu sức khỏe quan trọng nhất thông qua những mục đích (và mục tiêu) có thể  đo lường được; (3) Xây dựng chiến lược/ biện pháp triển khai thực hiện; (4) Xác định nguồn lực sẵn có và cần thiết.

[5] Xu hướng sử dụng công nghệ và xu hướng toàn cầu hóa tiếp tục trở thành xu hướng tất yếu của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 và nó tác động mạnh mẽ đến từng quốc gia, bất kể mức độ phát triển khác nhau. Quá trình tự động hóa hiện có tốc độ gia tăng khá nhanh ở các quốc gia có thu nhập cao do sử dụng rôbốt nhiều hơn và biết tận dụng tối đa các sáng kiến, phát minh do cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 mang lại. Cụ thể như việc nhiều tập đoàn doanh nghiệp lớn tích cực xây dựng các nhà máy thông minh giúp họ khắc phục nhiều thách thức nảy sinh trong nội tại nền kinh tế. Ví dụ hãng Adidas với công nghệ sản xuất giày dép “Speedfactories” ở Đức và Hoa Kỳ. Sản xuất công nghiệp phụ trợ mặt hàng giày dép trước đây phổ biến sử dụng nhiều nhân công lao động không đòi hỏi tay nghề cao, nhưng nay với việc tự động hóa cao sử dụng rôbốt công nghiệp, nhà máy “Speedfactory” đã giảm đáng kể nhân lực ở các phân xưởng khi chi phí và thời gian cần để in các hàng hoá này tiếp tục giảm. Hãng Adidas, công ty hàng đầu đầu tư cho công nghệ in ấn 3-D, đã thành lập hai công ty Speedfactories tại Ansbach (Đức) và Atlanta (Hoa Kỳ), mỗi nơi có thể sản xuất 500 nghìn đôi giày/ năm. Việc chuyển giao công nghệ hiện đại nêu trên dẫn đến việc hãng này sa thải 1.000 việc làm trong lực lượng lao động của Việt Nam và tạo ra 160 công việc kỹ thuật tại thành phố Ansbach và Atlanta.

[6] Xem: Mâu thuẫn lợi ích giữa chủ doanh nghiệp và người lao động ở Việt Nam hiện nay. Tạp chí KHXH VN. http://tapchikhxh.vass.gov.vn/mau-thuan-loi-ich-giua-chu-doanh-nghiep-va-nguoi-lao-dong-o-viet-nam-hien-nay-n50196.html .

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

PHẦN TẦNG XÃ HỘI: NỘI DUNG, BẢN CHẤT, TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN VÀ VẬN DỤNG VÀO THỰC TIỄN CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY

GIA ĐÌNH VÀ CHỨC NĂNG CỦA GIA ĐÌNH

CƠ CẤU DÂN SỐ THEO GIỚI TÍNH, ĐỘ TUỔI VÀ PHÂN BỐ DÂN CƯ