GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DÂN SỐ TRONG TÌNH HÌNH MỚI Ở VIỆT NAM
GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DÂN SỐ TRONG TÌNH HÌNH MỚI Ở VIỆT NAM
Nghị quyết số
21-NQ/TW (khoá XII) ngày 25/10/2017 về Công tác dân số trong tình hình mới, xác
định: "Giải quyết toàn diện, đồng bộ các vấn đề về quy mô, cơ cấu, phân bố,
chất lượng dân số và đặt trong mối quan
hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế - xã hội. Duy trì vững chắc mức sinh
thay thế; đưa tỷ số giới tính khi sinh về mức cân bằng tự nhiên; tận dụng hiệu
quả cơ cấu dân số vàng, thích ứng với già hoá dân số; phân bố dân số hợp lý;
nâng cao chất lượng dân số, góp phần phát triển đất nước nhanh, bền vững.
Để nâng cao chất
lượng dân số, góp phần phát triển nhanh, bền vững đất nước cần giải quyết tốt mối
quan hệ giữa dân số và phát triển kinh tế - xã hội. Trong công tác lãnh đạo, quản
lý cần chú trọng đến một số vấn đề sau:
Thứ nhất, tiếp tục đổi mới nâng cao chất lượng
giáo dục đào tạo. Tiếp tục
nghiên cứu, đổi mới giáo dục đào tạo cả về quy mô, loại hình, chất lượng giáo dục
và đào tạo bao gồm cả đào tạo nghề. Rà soát hệ thống trường công lập và ngoài
công lập ở các bậc đào tạo để có quy mô trường, lớp tương ứng với quy mô dân số
và nhu cầu giáo dục đào tạo. Xác định rõ triết lý giáo dục và chiến lược giáo dục
đào tạo để tạo ra sản phẩm giáo dục là những con người có đạo đức, có trình độ,
năng động, sáng tạo để xây dựng và phát triển bền vững đất nước.
Nâng cao chất lượng
đào tạo các trường sư phạm, đặc biệt là chất lượng đầu vào, để ngành sư phạm
thu hút được những sinh viên năng lực trí tuệ, có khả năng sư phạm và tâm huyết
nghề nghiệp. Xây dựng đội ngũ giáo viên có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ
chuyên môn và phương pháp giảng dạy hiện đại, yêu nghề. Ngăn chặn các biểu hiện tiêu cực, tránh “bệnh hình
thức”, “bệnh thành tích” và lợi ích nhóm trong giáo dục để giáo dục đào tạo
phát triển thực chất nhằm đáp ứng có chất lượng nguồn nhân lực cho phát triển
kinh tế, xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế một cách thực chất.
Thứ hai, nâng cao thu nhập và tích cực cải thiện đời
sống. Đại hội Đảng lần thứ
XII (năm 2016) đã đưa ra chỉ tiêu phấn đấu giai đoạn 2016 - 2020: “Tốc độ tăng
trưởng kinh tế bình quân 5 năm đạt 6,5 - 7%/năm. Đến năm 2020, GDP bình quân đầu
người khoảng 3.200 - 3.500 USD”. Để đạt mức thu nhập bình quân đầu người
3.200 - 3.500 USD vào năm 2020, trong thời gian tới, tạo việc làm, tăng thu
nhập cho người lao động có ý nghĩa hết sức quan trọng. Mặt khác cần đẩy mạnh
chống tham nhũng, lãng phí, nâng cao hiệu quả và năng suất lao động. Đi đôi với
tăng thu nhập bình quân đầu người, chúng ta cần quan tâm đến đời sống tinh
thần, xã hội của con người, đặc biệt đối với phụ nữ, trẻ em, người cao tuổi
nhằm góp phần cải thiện mạnh mẽ đời sống tinh thần của con người.
Thứ ba, đảm bảo vệ sinh môi trường và an toàn
lương thực, thực phẩm góp phần đảm bảo sức khoẻ cho con người. Ô nhiễm môi trường (nước, đất, không khí)
đã và tiếp tục bị ô nhiễm, thậm chí ngày càng nghiêm trọng. Lương thực, thực phẩm
không đảm bảo an toàn do sử dụng chất kháng sinh, chất bảo quản,... bị cấm hoặc
quá giới hạn cho phép đã và đang đe doạ đến sức khoẻ, thậm chí tính mạng của
con người, làm ảnh hưởng nghiêm trọng chất lượng dân số. Chính vì vậy trong
công tác lãnh đạo, quản lý nên: (1) Xây dựng, hoàn thiện luật, chính sách về bảo
vệ môi trường, đảm bảo an toàn lương thực, thực phẩm trong bối cảnh phát triển
kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng của Việt Nam;
(2) Xây dựng các quy chuẩn, hội nhập với tiêu chuẩn chung của thế giới về an
toàn lương thực, thực phẩm để quản lý; (3) Có chế tài phòng ngừa và xử lý thật
nghiêm các tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm môi trường, gây mất an toàn lương thực,
thực phẩm; (4) Truyền thông, thúc đẩy sự tham gia có trách nhiệm của người dân
trong việc phòng chống ô nhiễm môi trường, phòng ngừa, lên án, tẩy chay những sản
phẩm (lương thực, thực phẩm, hàng hóa) không đảm bảo chất lượng làm ảnh hưởng đến
đời sống, sức khoẻ của con người.
Thứ tư, quan tâm chăm sóc sức khoẻ sinh sản, thực
hiện tình dục an toàn. Trong
thời gian tới, Việt Nam cần tăng cường công tác chăm sóc sức khoẻ sinh sản góp
phần tích cực vào việc nâng cao chất lượng dân số. Trong Chiến lược Dân số và Sức
khoẻ sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011-2020 đề ra mục tiêu: Tỷ lệ bà mẹ mang
thai được sàng lọc trước sinh đạt 15% vào năm 2015 và 50% vào năm 2020. Giảm tỷ
lệ tử vong bà mẹ liên quan đến thai sản xuống 58.3/100.000 trẻ đẻ sống vào năm
2015 và xuống dưới 52/100.000 vào năm 2020. Giảm tỷ lệ nạo phá thai, cơ bản loại
trừ phá thai không an toàn; giảm tỷ lệ phá thai xuống 27/100 trẻ đẻ sống vào
2015 và dưới 25/100 vào 2020. Cải thiện sức khoẻ sinh sản của người chưa thành
niên và thành niên. Giảm nhiễm khuẩn đường sinh sản, nhiễm khuẩn lây truyền qua
đường tình dục.
Sau 10 năm thực hiện
Chiến lược Dân số và Sức khoẻ sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011-2020, chúng ta
đã đạt được những kết quả quan trọng. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, công tác này
vẫn còn nhiều thách thức đòi hỏi cần phải có những nhóm giải pháp đồng bộ và sự
tham gia tích cực của các cấp, các ngành liên quan.
Thực tế cho thấy,
tình trạng sức khỏe bà mẹ và trẻ em tuy đã được cải thiện, nhưng tai biến sản
khoa và tử vong mẹ vẫn còn có sự khác biệt rõ rệt giữa các vùng, miền. Tử vong
trẻ em dưới một tuổi và dưới năm tuổi tuy đã giảm mạnh nhưng tử vong sơ sinh
còn cao (chiếm khoảng 70% số ca tử vong trẻ em dưới 1 tuổi, 50% số ca tử vong
trẻ em dưới năm tuổi). Khả năng tiếp cận và chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe
bà mẹ trước, trong và sau sinh, chăm sóc trẻ sơ sinh còn hạn chế ở khu vực miền
núi, vùng sâu, vùng xa. Tình trạng đẻ tại nhà, đẻ không có cán bộ được đào tạo
đỡ còn khá phổ biến ở một số vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Tỷ lệ thăm khám bà
mẹ và trẻ sơ sinh sau đẻ còn thấp.
Hoạt động cung ứng
phương tiện tránh thai gặp khó khăn. Trong khi đó, những năm tới, do số phụ nữ
bước vào độ tuổi sinh đẻ tiếp tục tăng (dự kiến đạt gần 27 triệu người vào năm
2020), nhu cầu sử dụng các biện pháp tránh thai, nhất là các biện pháp tránh
thai hiện đại, sẽ tiếp tục tăng và luôn giữ ở mức cao. Tình trạng phá thai và
vô sinh còn nhiều. Tỷ lệ phá thai, bao gồm cả phá thai ở thanh niên, người chưa
thành niên còn cao. Tình trạng phá thai lặp lại còn khá phổ biến, phá thai
không an toàn vẫn còn xảy ra. Tỷ lệ vô sinh còn cao, nhưng khả năng tiếp cận dịch
vụ hỗ trợ cho người vô sinh còn hạn chế. Việc phát hiện, điều trị, theo dõi và
tư vấn sau điều trị chưa được quan tâm đúng mức. Việc sàng lọc, phát hiện sớm
và dự phòng ung thư đường sinh sản chưa được triển khai rộng rãi. Dịch vụ chăm
sóc sức khỏe sinh sản nam giới, người cao tuổi, người di cư chưa đáp ứng được
nhu cầu. Nhận thức về giới trong cộng đồng rất hạn chế, thiếu hiểu biết về ảnh
hưởng của bạo lực tình dục tới sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục của nạn
nhân; thiếu hiểu biết về mối liên quan giữa lạm dụng chất gây nghiện và bạo
hành giới; quan niệm lạc hậu về vai trò của nam và nữ, phụ nữ thiếu hiểu biết về
quyền của bản thân[1].
Để thực hiện các mục
tiêu đề ra trong Chiến lược và từ thực tiễn vấn đề sức khoẻ sinh sản, tình dục
an toàn ở Việt Nam, một số vấn đề đặt ra nên chăng cần được quan tâm trong công
tác lãnh đạo, quản lý: (1) Tiếp tục xây dựng và cải thiện hệ thống dịch vụ chăm
sóc sức khoẻ sinh sản bao gồm cả khu vực công và tư để đảm bảo chất lượng. Nâng
cao chất lượng khám, phòng ngừa, điều trị những vấn đề về sinh sản, phòng ngừa
dị tật thai nhi, dị tật bẩm sinh, tử vong bà mẹ sau sinh có ý nghĩa quan trọng.
Điều trị vô sinh cho cả nam và nữ cần tiếp tục được đẩy mạnh; (2) Tăng cường dịch
vụ cung ứng các phương tiện tránh thai phù hợp (bao cao su, thuốc, vòng tránh
thai,...) để hạn chế thấp nhất tình trạng mang thai ngoài ý muốn và thúc đẩy
hành vi tình dục an toàn bằng biện pháp sử dụng bao cao su để tránh các lây nhiễm
HIV và các bệnh lây truyền qua đường tình dục; (3) Đa dạng hoá các hoạt động
truyền thông thay đổi hành vi nhằm nâng cao nhận thức, sự quan tâm của cộng đồng,
xã hội và thúc đẩy hành vi tích cực chăm sóc sức khoẻ sinh sản, thực hiện hành
vi tình dục an toàn; (4) Các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản, truyền thông
thay đổi hành vi cần đặc biệt chú ý tới: thanh niên, vị thành niên và các nhóm
dân cư đặc thù (người di cư, người khuyết tật, người nhiễm HIV, người dân thuộc
dân tộc ít người còn gặp nhiều khó khăn).
Thứ năm, tiến hành các cuộc điều tra nghiên cứu
chuyên sâu định kỳ về chất lượng dân số và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng
dân số Việt Nam. Cần điều
tra, đánh giá khách quan thực trạng chất lượng dân số Việt Nam trên cơ sở đó đề
xuất các tác động can thiệp về mặt chính sách đối với Nhà nước; cải thiện hệ thống
dịch vụ xã hội để phục vụ nhu cầu của người dân. Tiến hành các cuộc điều tra xã
hội học đánh giá thực trạng nhận thức; chỉ đạo quyết liệt hơn nữa nhằm nâng cao chất lượng dân số. Đánh giá nhận
thức, thái độ, hành vi của người dân trong việc tham gia nâng cao chất lượng
dân số cho bản thân, gia đình và cộng đồng trên cơ sở đó khuyến nghị các tác động
can thiệp phù hợp.
Phạm Đi
[1]
Hoàng Minh, Những thách thức trong công
tác chăm sóc sức khỏe sinh sản, Báo Nhân dân điện tử. Tham kiến: https://www.nhandan.com.vn/suckhoe/item/19166502-.html
Nhận xét
Đăng nhận xét