DÂN SỐ , CƠ CẤU DÂN SỐ

 

DÂN SỐ , CƠ CẤU DÂN SỐ

Con người là chủ thể của xã hội, là tiền đề, nền móng của tồn tại xã hội.Nói đến con người không thể đề cập đến “con người” một cách chung chung. Do đó khi nghiên cứu, các nhà xã hội học thường đề cập đến khái niệm dân số, vì đó là tổng hòa của nhiều cá nhân sống trong một phạm vi, địa vực nhất định trong một thời kỳ lịch sử xã hội nhất định. Khi tiến hành nghiên cứu về thực trạng dân số có thể tiến hành khảo sát trên hai phương diện, đó là trạng thái động (động thái) và trạng thái tĩnh (tĩnh thái) của cơ cấu dân số[1].

Từ góc độ tĩnh thái, tình trạng nhân khẩu có thể được phản ánh từ số lượng dân số, mật độ dân số, cơ cấu dân số. Cơ cấu dân số chủ yếu căn cứ vào những đặc trưng, tiêu chí khác nhau của dân số để phân chia, sắp xếp nhưng nó chủ yếu phân chia theo hai nhóm lớn đó là cơ cấu dân số tự nhiên và cơ cấu dân số xã hội. Cơ cấu dân số tự nhiên chủ yếu gồm cơ cấu giới tính, cơ cấu lứa tuổi, số người tàn tật; cơ cấu dân số xã hội thường phân chia thành cơ cấu giai cấp, cơ cấu sức lao động, cơ cấu nhân khẩu chia theo ngành nghề, cơ cấu dân số chia theo trình độ giáo dục, tình trạng kết hôn, tình trạng gia đình, thành phần dân tộc, tôn giáo tín ngưỡng, ngôn ngữ, phân bố dân cư...

Từ góc độ động thái, tình trạng nhân khẩu được phản ánh thông qua những phát sinh, biến động của nhân khẩu trong một thời điểm nhất định đặt trong một khoảng thời gian nhất định, tại không gian nhất định. Sự biến động nhân khẩu có thể phân chia thành 3 loại: biến động tự nhiên, biến động cơ học và biến động xã hội. Biến động tự nhiên tức là chỉ quá trình biến động dân số mà ở đó một thế hệ mới ra đời thay những người tử vong trước đó, tức là quá trình tái sản xuất con người. Số lượng sinh, số lượng chết, số lượng  tăng trưởng dân số tự nhiên; tỷ suất sinh, tỷ lệ tử vong, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là những chỉ báo, thang đo cho quá trình biến động dân số tự nhiên[2]. Biến động cơ học là sự thay đổi dân số về mặt không gian, lãnh thổ. Trong cuộc sống con người, vì những nguyên nhân khác nhau, với nhiều mục đích khác nhau, với khoảng cách xa gần khác nhau và vào những thời điểm khác nhau mà có những “dịch chuyển”, “di động” khác nhau nên còn gọi là di cư (hay di dân[3]). Quá trình này chịu tác động bởi nhiều những nhân tố kinh tế, chính trị, xã hội do vậy nó mang bản chất kinh tế, chính trị, xã hội sâu sắc. Biến động cơ học thường thể hiện ở số người di cư (đi, đến), số lượng gia tăng cơ học, tỷ lệ xuất/nhập cư, tỷ lệ tăng trưởng dân số cơ học. Biến động xã hội là sự thay đổi dân số từ sự biến động của cơ cấu xã hội do tác động của một hoặc nhiều nhân tố từ chính trị-xã hội. Xét về bản chất có thể quy biến động xã hội vào biến động cơ học bởi dù nguyên nhân nào thì nó cũng dẫn đến sự dịch chuyển dân số từ nơi này đến nơi khác.

Cơ cấu dân số theo độ tuổi

Cơ cấu dân số theo độ tuổi là tập hợp các nhóm người được sắp xếp theo những lứa tuổi nhất định (còn gọi là cơ cấu lứa tuổi). Đó là sự phân chia số dân theo từng nhóm tuổi nhằm phục vụ cho việc nghiên cứu các quá trình dân số và các quá trình kinh tế xã hội. Thông qua mối tương quan của số dân ở các nhóm tuổi, ta có thể đánh giá, so sánh các nhóm trong mối quan hệ qua lại với các đặc trưng dân số, xã hội và kinh tế của dân cư trong quá trình phát triển của chúng.

Có hai cách phân chia độ tuổi dựa trên việc sử dụng các thang đo khác nhau: (1) Độ tuổi có khoảng cách đều như nhau: Sự chênh lệch về tuổi giữa hai độ tuổi kế tiếp nhau có thể là 1 năm, 5 năm hay 10 năm (người ta thường sử dụng khoảng cách 5 năm). (2) Độ tuổi có khoảng cách không đều nhau: Thông thường, người ta chia thành 3 nhóm tuổi: dưới độ tuổi lao động (0 – 14 tuổi), trong độ tuổi lao động (15-59 tuổi) và trên độ tuổi lao động (từ 60 tuổi trở lên). Cơ cấu dân số theo độ tuổi là chỉ báo quan trọng đối với sự phát triển kinh tế-xã hội của một quốc gia, dân tộc, cộng đồng[4].

Cơ cấu dân số theo giới tính

Trên một phạm vi lãnh thổ, bao giờ cũng có dân số nam và dân số nữ cùng chung sống và số lượng nam, nữ thường có mối tương quan với nhau; từ đó hình thành nên cơ cấu dân số theo giới tính (hay cơ cấu nam nữ). Cơ cấu dân số này có sự khác nhau tùy theo lứa tuổi và có thể diễn đạt theo nhiều cách: số lượng nam trên 100 nữ, số lượng nữ trên 100 nam hoặc số lượng nam (hoặc nữ) so với tổng số dân (tính bằng %).

Xét một cách tổng thể, số lượng nam và nữ là cân bằng nhau, tức là tỷ lệ giới tính sau sinh thường tiệm cận nhau, tuy nhiên, tỷ lệ dân số chịu tác động của nhiều nhân tố khác nhau kể cả nhân tố xã hội và nhân tố tự nhiên, do đó tỷ lệ này thường mất cân đối (sự mất cân đối này chịu tác động của nguyên nhân xã hội nhiều hơn là yếu tố tự nhiên). Do vậy, trên thế giới trong tổng số trẻ mới sinh thì thường có số nam nhiều hơn số nữ (tỉ số nam so với nữ thường dao động từ 103 đến 106 tùy theo từng châu lục, từng nước). Tuy nhiên người ta quan sát thấy những nước có số nữ nhiều hơn thường là những nước kinh tế phát triển (châu Âu, Bắc Mỹ, ÚcNew Zealand), ở đây tuổi thọ trung bình của nam giới cũng thường thấp hơn nữ giới. Trái lại, những nước có số nam trội hơn thường là những nước kinh tế chậm phát triển, tuổi thọ trung bình giữa nam và nữ không chênh nhau nhiều (đôi khi của nam cao hơn của nữ). Hiện tượng này phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố xã hội. Trong đó có vấn đề chăm sóc, bảo vệ bà mẹ và trẻ em. Tại các nước kinh tế chậm phát triển tỉ số nữ giới ngày càng thấp vì mức tử vong của các bà mẹ và các em gái còn cao. Những nước có số nam trội hơn là những nước thuộc khu vực Nam ÁTrung Quốc.

Cơ cấu dân số theo giới tính còn có sự khác nhau rõ rệt giữa thành thị và nông thôn. Sự khác nhau này phụ thuộc vào nhiều nhân tố như kinh tế, văn hóa, xã hội ở từng nơi và trong từng thời gian cụ thể. Tính chất và nhu cầu lao động cũng có ảnh hưởng nhiều đến cấu trúc dân số theo giới tính giữa hai khu vực nói trên. Chẳng hạn ở các khu công nghiệp nặng và lao động nặng nhọc (luyện kim, khai mỏ,…) thường có số nam cao hơn, trái lại ở các khu công nghiệp nhẹ (dệt, may) lại thường có số nữ cao hơn.

Phạm Đi



[1] Cần nói thêm rằng, hiện nay không ít người (kể cả trên các phương tiện truyền thông đại chúng) thường đánh đồng hai khái niệm “động thái” và “hành động”. Ví dụ: “Động thái bất ngờ của.... đối với....”; “Động thái mới của.... cho thấy....”; “Với vấn đề đó nhưng động thái của.... chưa kịp thời”,... “Động thái chính là biểu hiện biến đổi của một tính trạng theo thời gian, theo sự phát triển” khác với hành động được cho là “Việc làm cụ thể của con người nhằm một mục đích nhất định” (Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng 1997). Đối với xã hội học, thì động thái là khái niệm ngược với tĩnh thái và chúng làm nên một trạng thái chỉnh thể của sự vật, hiện tượng, vấn đề. Động thái là cái có thể nhìn thấy (quan sát) và tiến hành “cân, đong, đo, đếm” được nhưng tĩnh thái là trạng thái khó nắm bắt bằng quan sát thông thường, và như thế cũng khó có thể tiến hành “cân, đong, đo, đếm” một cách thông thường mà phải tiến hành xem xét ở từng lát cắt về số lượng, quy mô, cơ cấu trong cấu trúc của nó.

[2] Tỷ suất tăng tự nhiên dân số (ký hiệu bằng NIR, thường tính bằng đơn vị phần nghìn) được định nghĩa là hiệu số giữa tỷ suất sinh thô (CBR) và tỷ suất chết thô (CDR). Tỷ suất này cho biết, bình quân cứ 1000 dân số trung bình của một năm, thì có bao nhiêu người tăng lên trong năm do hậu quả của 2 yếu tố sinh và chết.

[3] Khái niệm “di dân” được hiểu là hiện tượng di chuyển của người dân theo lãnh thổ với những chuẩn mực về thời gian và không gian nhất định kèm theo sự thay đổi nơi cư trú. Hiện có nhiều cách phân loại di dân: (1) Theo độ thời gian nới cư trú cho phép phân biệt các kiểu di dân: lâu dài, tạm thời hay chuyển tiếp. Di dân lâu dài bao gồm các hình thức thay đổi nơi cư trú thường xuyên và chuyển nơi làm việc đến chỗ mới với mục đích sinh sống lâu dài. Những thành phần này thường không trở về quê hương nơi cư trú. Di dân tạm thời ngụ ý sự thay đổi nơi ở gốc là không lâu dài và khả năng quay trở lại nơi ở cũ là chắc chắn. Kiểu di dân này bao gồm những hình thức di chuyển nơi làm việc theo mùa vụ, đi công tác, du lịch dài ngày... Di dân chuyển tiếp phân biệt các hình thức di dân mà không thay đổi nơi làm việc. Kiểu di dân này gợi ý các điều tiết thị trường lao động. (2) Theo khoảng cách người ta phân biệt di dân xa hay gần giữa nơi đi và nơi đến. Di dân giữa các nước gọi là di dân quốc tế; giữa các vùng, các đơn vị hành chính trong nước thì gọi là di dân nội địa. (3) Theo tính chất chuyên quyền người ta phân biệt di dân hợp pháp hay di dân bất hợp pháp, di dân tự do hay có tổ chức, di dân tình nguyện hay bắt buộc. Tuỳ thuộc vào mức độ can thiệp của chính quyền trung ương hay địa phương mà người ta phân biệt di dân theo loại này hay loại khác.

[4] Tùy theo mỗi quốc gia, mỗi thời điểm, mỗi giới (nam/nữ) mà độ tuổi lao động có thể được quy định khác nhau. Chẳng hạn, theo Bộ Luật lao động (2019) của Việt Nam Tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường được điều chỉnh theo lộ trình cho đến khi đủ 62 tuổi đối với lao động nam vào năm 2028 và đủ 60 tuổi đối với lao động nữ vào năm 2035.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

PHẦN TẦNG XÃ HỘI: NỘI DUNG, BẢN CHẤT, TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN VÀ VẬN DỤNG VÀO THỰC TIỄN CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY

GIA ĐÌNH VÀ CHỨC NĂNG CỦA GIA ĐÌNH

CƠ CẤU DÂN SỐ THEO GIỚI TÍNH, ĐỘ TUỔI VÀ PHÂN BỐ DÂN CƯ