CHÍNH SÁCH XÃ HỘI VÀ MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN

 

CHÍNH SÁCH XÃ HỘI VÀ MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN

Chính sách xã hội và phúc lợi xã hội

Phúc lợi xã hội (Social Welfare) là thuật ngữ không xa lạ đối với các nhà nghiên cứu, trong thực thi hành chính, thậm chí trong đời sống thường nhật. Thế nhưng, hiện vẫn còn nhiều điểm chưa thống nhất, thậm chí khác biệt về nội hàm của khái niệm này. Riêng từ “phúc lợi” cũng đã có nhiều cách hiểu khác nhau ở các quốc gia, nhà nghiên cứu.

Đầu tiên, từ ý nghĩa thông thường mà nói, “phúc lợi” hàm chỉ trạng thái tốt, tích cực trong đời sống của con người: thỏa mãn mục tiêu giá trị về sung sướng, hạnh phúc, bình đẳng, thân ái.

Thứ đến, “phúc lợi” hàm chỉ phương thức phân phối tài sản xã hội chẳng hạn phân phối nhà ở, phân phối lương thực, phân phối thuốc men,…Với hàm nghĩa và cách hiểu này, người ta gắn “phúc lợi” với khái niệm “chế độ phúc lợi”.

Cuối cùng, “phúc lợi” hàm chỉ cách thức phục vụ đặc thù mà chính phủ hoặc tổ chức chính trị cung cấp cho các thành viên trong xã hội. Theo đó, người ta thường gắn với các nhóm đối tượng cụ thể như nhóm nghèo đói, nhóm tàn tật, nhóm góa, nhóm mồ côi, nhóm yếu thế,…

Từ góc độ chính sách xã hội nhìn nhận, cách hiểu thứ nhất có ngoại diên quá rộng, nội dung của nó quá lớn; ngược lại, cách hiểu thứ ba thì lại quá hẹp, nội dung hành động bị bó hẹp. Do đó, nhiều quốc gia và học giả thường hiểu “phúc lợi xã hội” ở tầng nghĩa thứ hai. Từ bình diện đó xem xét, phúc lợi xã hội là hành vi phi thương mại hướng đến các nhóm xã hội yếu thế (thu nhập, nhà ở, y tế,…) nhằm tạo điều kiện để họ tiếp cận (một cách cơ bản nhất) và thỏa mãn nhu cầu tối thiểu, giúp hòa nhập xã hội; nguồn lực vật chất thực hiện phúc lợi xã hội chủ yếu là nguồn lực công và đối tượng thụ hưởng là cá nhân, nhóm xã hội thiếu hụt hoặc chưa đảm bảo các điều kiện tối thiểu. Cần lưu ý rằng, tính “phúc lợi” của phúc lợi xã hội gồm hai hình thức: kiểu thứ nhất là các sản phẩm (vật chất) và dịch vụ nào đó được tất cả các thành viên trong xã hội (hoặc một nhóm xã hội đặc thù nào đó) thụ hưởng, sử dụng. Ví dụ: chính phủ có kế hoạch trợ giá (hoặc miễn giảm) cho một sản phẩm (hay dịch vụ) nào đó như nông sản, thủy sản, dịch vụ xe công cộng mà đối tượng thụ hưởng là tất cả thành viên trong xã hội; kiểu thứ hai là chính phủ có chính sách đặc thù đối với các nhóm cụ thể như người tàn tật, trẻ em, người cao tuổi, người vừa chịu thiệt hại về dịch bệnh, thiên tai,..

Trên thực tế, vì tính chất và mục đích của nó, nhiều người “đánh đồng” khái niệm “chính sách xã hội” và “phúc lợi xã hội”. Tuy nhiên, cần phải phân biệt rằng, “chính sách xã hội” thiên về “hành động” của chính phủ bằng cách ban hành các chính sách liên quan để thực thi các “phúc lợi xã hội”. Từ giác độ nghiên cứu mà nói, khi sử dụng thuật ngữ “chính sách xã hội” hay “phúc lợi xã hội” còn phụ thuộc vào thói quen trong nghiên cứu và các cơ sở pháp lý được quy định bởi các văn bản quy phạm pháp luật.

Chính sách xã hội và bảo trợ xã hội

Bảo trợ xã hội (Social Protetion) là biện pháp thực thi của chính phủ (hay tổ chức xã hội) nhằm tránh (hoặc giảm nhẹ) những tổn hại do sự biến đổi xã hội gây nên (trên các phương diện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội). “Bảo trợ xã hội” có hàm nghĩa gần giống với “bảo đảm xã hội” nhưng nội dung của nó rộng hơn nhiều. Bảo đảm xã hội chủ yếu là hành động của chính phủ thực thi chính sách phúc lợi như bảo hiểm, cứu trợ xã hội đối với những người mất năng lực hoặc cơ hội lao động nhằm đảm bảo đời sống cơ bản của công dân. Đối với khái niệm “bảo trợ xã hội” thì ngoài đảm bảo đời sống cơ bản cho công dân còn bao hàm cả việc bảo trợ trên các lĩnh vực như việc làm, giáo dục, y tế, tiêu dùng,... Từ đó có thể thấy, mục đích chủ yếu của hoạt động bảo trợ xã hội là tránh (hoặc giảm thiểu) những tổn thất xã hội, tức là giảm nhẹ những rủi ro cho các nhóm xã hội trong quá trình biến đổi xã hội (nhất là chuyển biến về kinh tế).

Bảo trợ xã hội vừa có tính dự phòng, vừa có tính “chữa trị”. Tính dự phòng thể hiện ở chỗ, thông qua các biện pháp khác nhau nhằm nâng cao năng lực làm việc và cơ hội việc làm; tăng cường năng lực tự thân của con người (người lao động) trong những tình huống và điều kiện bất lợi. Tính chữa trị tức là trực tiếp cung cấp những hỗ trợ (về vật chất và điều kiện) cho các thành viên nếu có tổn hại. Tính dự phòng tuân thủ theo hai nguyên tắc: (1) bảo hộ quyền lợi cơ bản, tức là chế định các chính sách nhằm bảo hộ các thành viên trong xã hội (đặc biệt là nhóm yếu thế) để bảo đảm những lợi ích nhất định; (2) tăng quyền, trao quyền (Empowerment) và nâng cao năng lực tự thân của các nhóm xã hội (nhất là nhóm yếu thế) bằng cách thông qua con đường giáo dục, cung cấp nguồn lực, hỗ trợ vốn, tạo việc làm,...Tính “chữa trị” cũng tuân theo hai nguyên tắc: (1) nguyên tắc hỗ trợ hay đền bù, tức là nhà nước và xã hội phải có trách nhiệm đối với nhóm yếu thế bởi chí ít họ cũng là “nạn nhân” của quá trình phát triển. Trong quá trình phát triển, vì một lý do nào đó (do di dời, giải tỏa, tái định cư; do biến đổi xã hội quá nhanh mà họ không thích ứng kịp) mà một số người bị “bỏ lại phía sau”, do đó, chỉnh phủ phải có động thái “đền bù” cho họ để họ có điều kiện vươn lên, hòa nhập vào cuộc sống; (2) nguyên tắc quan tâm và trách nhiệm, tức là nhà nước (hay các nhóm xã hội khác) cần phải quan tâm và chăm lo cho nhóm yếu thế, vừa thể hiện tính nhân văn vừa là tinh thần trách nhiệm của nhà nước đối với quá trình lãnh đạo, quản lý xã hội[1].

Cần nhấn mạnh rằng, chính sách xã hội và bảo trợ xã hội là hai khái niệm có điểm giao thoa nhưng không hề giống nhau. Bảo trợ xã hội chủ yếu nhắm đến việc bảo hộ quyền lực và đảm bảo đời sống tối thiểu cho các nhóm xã hội (nhất là nhóm yếu thế), như vậy, bảo trợ xã hội là một bộ phận tổ thành của hệ thống chính sách xã hội.

Chính sách xã hội và hành chính xã hội

Hành chính xã hội (Social Administration) là toàn bộ những hành động của chính phủ nhằm hướng đến giải quyết các vấn đề xã hội, sự vụ mang tính xã hội. Khái niệm “hành chính xã hội” có ba tầng nghĩa: đầu tiên, trong phạm vi và quyền hạn của chính phủ, có một số sự vụ mang tính xã hội mà chủ thể cũng như chịu trách nhiệm giải quyết chính, gọi là hành chính xã hội; thứ hai, thể hiện cơ cấu của chính phủ trong giải quyết các sự vụ mang tính xã hội, ví dụ cơ cấu quản lý về hành chính giáo dục, cơ cấu quản lý về hành chính y tế, cơ cấu quản lý về hành chính lao động và việc làm, cơ cấu quản lý về hành chính y tế; thứ ba, được hiểu là hệ thống thứ bậc và nguyên tắc quản lý các sự vụ công cộng, dịch vụ công.

Hành chính xã hội và chính sách xã hội có quan hệ mật thiết nhau. Đầu tiên, tuyệt đại bộ phận các chính sách xã hội, cho dù chủ thể thực hiện là nhà nước hay được ủy thác cho một tổ chức nào đó, đều do nhà nước ban hành và chịu trách nhiệm chính trong tổ chức thực hiện.

Phạm Đi



[1] Không phải ngẫu nhiên mà chủ đề thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị của năm 2019 là “Xây dựng ý thức tôn trọng Nhân dân, phát huy dân chủ, chăm lo đời sống Nhân dân”

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

PHẦN TẦNG XÃ HỘI: NỘI DUNG, BẢN CHẤT, TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN VÀ VẬN DỤNG VÀO THỰC TIỄN CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY

GIA ĐÌNH VÀ CHỨC NĂNG CỦA GIA ĐÌNH

CƠ CẤU DÂN SỐ THEO GIỚI TÍNH, ĐỘ TUỔI VÀ PHÂN BỐ DÂN CƯ