CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯ DÂN CÁC TỈNH DUYÊN HẢI MIỀN TRUNG: THỰC TRẠNG VÀ VẤN ĐỀ ĐẶT RA

 

CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯ DÂN CÁC TỈNH DUYÊN HẢI MIỀN TRUNG: THỰC TRẠNG VÀ VẤN ĐỀ ĐẶT RA

Để góp phần thực hiện mục tiêu đến năm 2020 đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia trên biển, đảo của Tổ quốc theo tinh thần của Nghị quyết 09-NQ/TW ngày 9/2/2007 “Về chiến lược biển đến năm 2020”, trong thời gian qua chính quyền các địa phương trong vùng duyên hải miền Trung đã chế định, triển khai nhiều chính sách có liên quan đến sinh kế ngư dân, trong đó đáng chú ý là đã huy động và bố trí nhiều nguồn lực đầu tư và có nhiều chính sách hỗ trợ ngư dân phát triển sản xuất, như: Đầu tư xây dựng cảng cá, bến cá, khu neo đậu tránh trú bão; hỗ trợ đóng tàu và cơ sở vật chất phục vụ trực tiếp việc khai thác hải sản; hỗ trợ công tác đào tạo, nâng cao trình độ cho ngư dân; tổ chức cho ngư dân sản xuất theo mô hình tổ, đội sản xuất; thực hiện nhiều chính sách an sinh xã hội, hỗ trợ giải quyết khó khăn, nâng cao đời sống cho ngư dân… Các chính sách triển khai thực hiện đã phát huy được hiệu quả, hỗ trợ doanh nghiệp và ngư dân bảo đảm việc khai thác, nuôi trồng và chế biến thủy sản được ổn định, từng bước tháo gỡ những khó khăn trong sản xuất và đời sống của ngư dân, góp phần xóa đói, giảm nghèo, cải thiện đời sống vật chất cho bà con ngư dân ở vùng ven biển, nông thôn và hải đảo, đồng thời bảo đảm phát triển bền vững nghề khai thác thủy sản cho bà con ngư dân trong vùng.

Tuy nhiên, trong thời gian vừa qua chính sách an sinh xã hội, phúc lợi xã hội cho nhóm ngư dân (nhất là ngư dân đánh bắt xa bờ) còn nhiều hạn chế và bất cập, tỷ lệ ngư dân và hộ ngư dân tham gia các loại bảo hiểm còn thấp. Mặc dù tại điều 5 chương II, Nghị định 67/2014/NĐ-CP ngày 7/7/2014 của Chính phủ Về một số chính sách phát triển thủy sản [1] có quy định về chính sách bảo hiểm hết sức cụ thể: “Ngân sách nhà nước hỗ trợ kinh phí mua bảo hiểm cho các tàu khai thác hải sản xa bờ, tàu dịch vụ hậu cần khai thác hải sản xa bờ là thành viên tổ đội, hợp tác xã khai thác hải sản và có tổng công suất máy chính từ 90CV trở lên: 1) Hỗ trợ hàng năm 100% kinh phí mua bảo hiểm tai nạn thuyền viên cho mỗi thuyền viên làm việc trên tàu. 2) Hỗ trợ hàng năm kinh phí mua bảo hiểm thân tàu, trang thiết bị, ngư lưới cụ trên mỗi tàu (bảo hiểm mọi rủi ro) với mức: a) 70% kinh phí mua bảo hiểm đối với tàu có tổng công suất máy chính từ 90CV đến dưới 400CV. b) 90% kinh phí mua bảo hiểm đối với tàu có tổng công suất máy chính từ 400CV trở lên.

Thế nhưng, theo đánh giá của cán bộ địa phương[2] thể hiện qua bảng số liệu 13 cho thấy, mặc dù “bảo hiểm thuyền viên” là loại bảo hiểm thu hút được lượng ngư dân tham gia nhiều nhất so với tất cả các loại bảo hiểm còn lại, nhưng nhìn chung tình hình ngư dân tham gia “bảo hiểm thuyền viên” vẫn chưa nhiều (giá trị trung bình 2.66) bởi đây là loại bảo hiểm đã được nhà nước hỗ trợ 100% kinh phí mua bảo hiểm.

Bảng 13: Đánh giá của cán bộ về tình hình tham gia các loại bảo hiểm của ngư dân trên địa bàn

Loại hình bảo hiểm

Tần suất

Giá trị trung bình

Phương sai

Bảo hiểm tai nạn thuyền viên

1172

2.66

1.271

Bảo hiểm xe cơ giới

1134

2.71

0.893

Bảo hiểm y tế

1184

3.11

0.968

Bảo hiểm thân tàu

1178

3.14

0.893

Bảo hiểm tai nạn trong sản xuất, kinh doanh

1120

3.41

0.837

Bảo hiểm cháy nổ

1144

3.47

1.026

Bảo hiểm nhân thọ

1166

3.60

0.490

Bảo hiểm thất nghiệp

1101

4.11

0.818

Như vậy, ở một khía cạnh nào đó mà nói, đây là chỉ báo cho thấy việc triển khai thực hiện Nghị định 67 và các chính sách liên quan đến ngư dân về bảo hiểm[3] ở một số địa phương trong vùng còn bất cập. Một trong những chính sách ưu đãi của Nhà nước đối với ngư dân là hỗ trợ mua bảo hiểm thân tàu, trang thiết bị và ngư lưới cụ trên tàu theo Nghị định 67 thì số lượng ngư dân tham gia loại hình bảo hiểm này chỉ ở mức thấp[4]. Tìm hiểu nguyên nhân tại số số lượng ngư dân trong vùng tham gia hai loại hình bảo hiểm (được Nhà nước hỗ trợ) ở mức thấp, chúng tôi được biết: thứ nhất, một số địa phương chậm triển khai vì phải chờ thông tư hướng dẫn của các bộ ngành liên quan để tiến hành rà soát các đối tượng thuộc diện điều chỉnh của Nghị định 67; thứ hai, nhiều địa phương như Thừa Thiên-Huế, Quảng Nam, Ninh Thuận số tàu có công suất dưới 90 CV chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số đội tàu khai thác (từ 80 đến 95% trong tổng số tàu), do đó đối tượng thụ hưởng được hỗ trợ bảo hiểm là không nhiều. Nói cách khác đối với những ngư dân có tàu công suất dưới 90CV thì không được hưởng chính sách về bảo hiểm bảo hiểm thân tàu, trang thiết bị, ngư lưới cụ trên tàu.

Đối với loại hình bảo hiểm tai nạn thuyền viên, theo phản ánh của một số địa phương thì “phương tiện đánh bắt của địa phương chủ yếu là ghe tàu nhỏ, hơn 80% lao động ngư nghiệp của địa phương đi làm thuê các nơi là cái khó lớn nhất khi thực hiện chế độ bảo hiểm cho bà con[5]. Bởi lẽ, theo điều 6 của thông tư số 115/2014/TT-BTC ngày 20/8/2014 của Bộ tài chính về Hướng dẫn thực hiện chính sách bảo hiểm quy định tại Nghị định số 67/2014/NĐ-CP ngày 07 tháng 7 năm 2014 của Chính phủ về một số chính sách phát triển thủy sản quy định về đối tượng được hỗ trợ kinh phí mua bảo hiểm là: 1) Chủ tàu khai thác hải sản xa bờ, tàu dịch vụ hậu cần khai thác hải sản xa bờ có tổng công suất máy chính từ 90CV trở lên đáp ứng đầy đủ các yêu cầu sau: a) Là thành viên của tổ đội, hợp tác xã khai thác hải sản; b) Có Giấy chứng nhận đăng ký tàu, Giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp theo quy định của pháp luật; c) Có giấy phép khai thác thủy sản đối với tàu khai thác hải sản xa bờ hoặc đăng ký tàu dịch vụ hậu cần khai thác hải sản xa bờ theo quy định của pháp luật; d) Đã thực hiện đăng ký thuyền viên và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp sổ danh bạ thuyền viên theo quy định pháp luật; đ) Có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã về đối tượng được hỗ trợ. 2) Thuyền viên làm việc trên tàu đáp ứng đầy đủ các yêu cầu theo quy định tại Khoản 1 Điều này. Do đó, đối tượng ngư dân được tham gia thụ hưởng chính sách bảo hiểm theo quy định là không nhiều cũng là điều dễ hiểu.

Có thể nói, trong vài năm trở lại đây Nhà nước đã có những chính sách hết sức kịp thời nhắm đến đối tượng ngư dân, từng bước bảo bảo sinh kế và an sinh xã hội cho đối tượng này, giúp ngư dân khắc phục những khó khăn, duy trì và đẩy mạnh sản xuất. Trong đó đáng chú ý là các chính sách hỗ trợ rủi ro do thiên tai gây ra đối với tổ chức, cá nhân khai thác, nuôi trồng thủy sản như hỗ trợ dầu, bảo hiểm thân tàu, bảo hiểm thuyền viên, hỗ trợ phao cứu sinh cho các thuyền viên, hỗ trợ y tế (thuốc, các vật dụng y tế). Về cơ bản, các chính sách này đã kịp thời giúp ngư dân khắc phục khó khăn bám biển sản xuất, duy trì khai thác thủy hải sản, giải quyết việc làm, cải thiện đời sống và đảm bảo sinh kế. Tuy nhiên, như đã phân tích, một số ưu đãi và hỗ trợ chỉ áp dụng cho đối tượng ngư dân có tàu công suất lớn (hiện vẫn chưa có chính sách aps dụng riêng cho tàu có công suất dưới 90CV). Bên cạnh đó, các chính sách hiện hữu chỉ áp dụng cho những trường hợp “đánh bắt xa bờ” và bảo hiểm chỉ áp dụng cho những trường hợp bị thiên tai mà không áp dụng cho các trường hợp khác như bị tai nạn trên biển, khiến bộ phận không nhỏ ngư dân không được thụ hưởng chính sách về bảo hiểm hiện hành.

Hơn nữa, thực tế ở vùng duyên hải miền Trung cho thấy, việc tổ chức cho ngư dân khai thác theo tổ đội, hợp tác xã và chính sách hỗ trợ ngư dân khai thác theo phương thức tổ đội sản xuất, hợp tác xã khai thác gặp nhiều khó khăn. Thói quen và tập quán khai thác nhỏ lẻ, “độc chiếc” của ngư dân là khó khăn lớn cho công tác vận động, tuyên truyền ngư dân tham gia vào các tổ đội hay hợp tác xã. Hiện vẫn chưa có quy định hoặc chính sách hỗ trợ kiểu khai thác tổ đội, hợp tác xã nên nhiều ngư dân vẫn chưa thấy được lợi ích khi tham gia vào các loại hình khai thác mới này. Đây cũng là điều khó khăn trong công tác quản lý và phát triển cộng đồng ngư dân cũng như thực hiện các chính sách liên quan ở nhiều địa phương trong vùng.

Một trong những nhiệm vụ của chính sách an sinh xã hội đối với ngư dân là thực hiện chính sách trợ giúp xã hội và hỗ trợ xã hội. Trong đó có vấn đề trợ cấp cho các hộ ngư dân nghèo, trợ cấp khó khăn đột xuất, trợ cấp ốn đau tai nạn, trợ cấp để giải quyết hậu quả của thiên tai, trợ cấp đào tạo nghề cũng như hỗ trợ về y tế, nhà ở, điện nước phương tiện, kỹ thuật đánh bắt xa bờ và các chính sách bảo trợ xã hội cần thiết đối với ngư dân. Đây là các chính sách góp phần hạn chế và khắc phục những rủi ro, tạo thế và lực vững chắc cho ngư dân trong hoạt động vươn khơi, bám biển trước nhiều khó khăn, thử thách như hiện nay.

Số liệu ở bảng 14 cho thấy, công tác trợ cấp cho hộ nghèo, trợ cấp khó khăn đột xuất, trợ cấp thiên tai, theo đánh giá của cán bộ được hỏi, là khá tốt; các công tác hỗ trợ y tế, hỗ trợ pháp lý, trợ cấp đào tạo nghề và tạo việc làm ở mức trung bình. Các nhận định này cũng phản ánh một cách tương đối trung thực về tình hình thực hiện cứu trợ xã hội, trợ cấp xã hội đối với cộng đồng ngư dân duyên hải miền Trung trong thời gian qua. Đúng như nhận định của một cán bộ cấp huyện: “Việc thực hiện vấn đề an sinh xã hội đến nay thì chưa có vấn đề chi. Bước đầu thì việc hiện an sinh xã hội rất là khó khăn, sau thì có những giải pháp cụ thể kích cầu cho cái việc này. Hạn chế lớn nhất về an sinh xã hội hiện nay phải nói là cái đối tượng nghèo, tỷ lệ nghèo ở địa phương là tương đối cao. Sau một thời gian triển khai các chính sách hỗ trợ, trợ cấp theo chủ trương của Nhà nước, đến nay huyện nhà chỉ có 1.6% tỷ lệ nghèo, hàng năm mình giảm được 1.7-1.8% nghèo. Đó là nhờ quyết tâm cao của các cấp ủy và chính quyền địa phương,...[6].

Bảng 14: Đánh giá của cán bộ về tình hình thực hiện chế độ trợ cấp xã hội đối với ngư dân

 

Tần suất

Tỷ lệ

 

Tần suất

Tỷ lệ

Trợ cấp hộ nghèo

Tốt

704

58.9%

Trợ cấp thiên tai

Tốt

535

45.3%

Khá

303

25.4%

Khá

353

29.9%

Trung bình

169

14.1%

Trung bình

267

22.6%

Kém

16

1.3%

Kém

23

1.9%

Rất kém

3

.3%

Rất kém

3

.3%

Trợ cấp khó khăn đột xuất

Tốt

610

51.3%

Trợ cấp ốm đau, tai nạn

Tốt

354

30.3%

Khá

294

24.7%

Khá

374

32.0%

Trung bình

242

20.4%

Trung bình

373

31.9%

Kém

37

3.1%

Kém

56

4.8%

Rất kém

6

.5%

Rất kém

13

1.1%

Trợ cấp sửa chữa xây dựng nhà ở

Tốt

405

34.9%

Hỗ trợ y tế

Tốt

318

27.3%

Khá

412

35.5%

Khá

391

33.5%

Trung bình

268

23.1%

Trung bình

376

32.2%

Kém

67

5.8%

Kém

76

6.5%

Rất kém

9

.8%

Rất kém

5

.4%

Trợ cấp đào tạo nghề và tạo việc làm

Tốt

292

25.0%

Hỗ trợ pháp lý

Tốt

261

22.5%

Khá

372

31.8%

Khá

328

28.3%

Trung bình

363

31.1%

Trung bình

440

37.9%

Kém

134

11.5%

Kém

111

9.6%

Rất kém

8

.7%

Rất kém

21

1.8%

Nghề ngư nói chung, hoạt động nuôi trồng, khai thác thủy hải sản nói riêng (nhất là đánh bắt xa bờ) có tính chất rủi ro rất cao. Do đo, việc hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội cho cộng đồng ngư dân là hết sức cần thiết. Hơn thế nữa, công tác triển khai thực hiện các chính sách hiện hữu về an sinh xã hội đối với ngư dân cần phải được triển khai một cách nhất quán, triệt để, kịp thời và có hiệu quả. Nhất là các loại hình bảo hiểm (được nhà nước quy định) dành riêng cho ngư dân (như tinh thần của Nghị định 67), các ưu đãi (như tinh thần của Quyết định 48), các chính sách hỗ trợ và đầu tư (như tinh thần của Quyết định 257).

Từ giác độ quản lý mà nói, cần chú trọng hơn nữa nhóm ngư dân nghèo, thiếu phương tiện sản xuất và khai thác. Vừa đảm bảo cho nhóm đối tượng này ổn định cuộc sống và tạo tâm lý an tâm để ngư dân vươn khơi bám biển, giảm nghèo từ biển, làm giàu từ biển. Muốn vậy, cần phải  tăng nguồn vốn tín dụng để ngư dân có thể vay lãi suất ưu đãi đầu tư phương tiện (và cải hoán tàu thuyền có công suất lớn) để thực hiện công việc đánh bắt xa bờ; hoàn thiện hệ thống bảo hiểm, thông tin liên lạc để ngư dân tránh được thiên tai, rủi ro bất thường khi thực hiện công việc trên biển, tránh những tổn thất từ những nguyên nhân khách quan và chủ quan (tàu nước ngoài quấy phá, hủy hoại tài sản,...); tăng cường hỗ trợ về quy hoạch xây dựng hạ tầng làng nghề cá, trong đó có hỗ trợ về điện, nước, trường học, cơ sở y tế với các điểm dân cư ven biển để đảm bảo cuộc sống với nhu cầu thiết yếu. Đối với chính sách bảo hiểm, cần tăng cường bảo hiểm về con người, phương tiện cho ngư dân. Như đã nói, do tính chất công việc tương đối đặc thù và tính rủi ro cao nên bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm y tế cũng cần phải có cơ chế và chính sách đặc thù. Cũng cần tính đến việc bảo hiểm hưu trí cho ngư dân (theo hình thức tự nguyện) đối với những ngư dân có “thâm niên” nghề ngư và có điều kiện đóng bảo hiểm để vừa tạo động lực cho ngư dân an tâm bám biển, vừa thực hiện chính sách an sinh căn cơ hơn cho cộng đồng có tính đặc thù này. 

 



[1] Sau đây gọi tắt là Nghị định 67.

[2] Với thang từ 1 đến 5 tương ứng với mức tham gia bảo hiểm từ mức cao nhất (nhiều người tham gia nhất) đến thấp nhất (ít người tham gia nhất), câu số 27 trong “bảng hỏi cán bộ”.

[3] Thông tư số 115/2014/TT-BTC và Thông tư số 116/2014/TT-BTC hướng dẫn thực hiện chính sách bảo hiểm và một số vấn đề về tài chính đối với các doanh nghiệp bảo hiểm.

[4] Xem thêm số liệu ở Phụ lục 18.

[5] Biên bản phỏng vấn sâu, Cán bộ Quảng Ngãi.

[6] Biên bản gỡ băng, cán bộ huyện, Thừa thiên-Huế.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

PHẦN TẦNG XÃ HỘI: NỘI DUNG, BẢN CHẤT, TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN VÀ VẬN DỤNG VÀO THỰC TIỄN CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY

GIA ĐÌNH VÀ CHỨC NĂNG CỦA GIA ĐÌNH

CƠ CẤU DÂN SỐ THEO GIỚI TÍNH, ĐỘ TUỔI VÀ PHÂN BỐ DÂN CƯ