BIẾN ĐỔI XÃ HỘI – KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI
BIẾN ĐỔI XÃ HỘI – KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI
Khái niệm
Biến đổi xã hội
(Social Change), hay còn gọi là “chuyển biến xã hội”, “thay đổi xã hội” là một
trong những chủ đề nghiên cứu của xã hội học. Từ ngay sau khi bộ môn xã hội học
được kiến lập thì đã có những nghiên cứu, thảo luận của các nhà xã hội học về
biến đổi xã hội. Thế nhưng, khái niệm xã hội học được bàn bạc và trao đổi một
cách tỉ mỉ, rõ ràng nhất từ khi cuốn sách “Biến đổi xã hội” (1922) của nhà xã hội học Mỹ W. Ogbum ra đời.
Tuy vậy, cho đến
nay vẫn chưa có một sự thống nhất về định nghĩa “biến đổi xã hội”. Có học giả
cho rằng, “biến đổi hay biến chuyển xã hội
là sự thay đổi diễn ra trong khuôn mẫu tổ chức xã hội, cấu trúc, thiết chế và đời
sống văn hóa xã hội”[1];
“biến
đổi xã hội là sự thay đổi so với một tình trạng hoặc một nếp sống có trước”[2];
hay “biến đổi xã hội là sự thay đổi xã hội
từ một ngưỡng này sang một ngưỡng khác về chất, xét dưới góc độ tổng thể các
thiết chế xã hội và cơ cấu xã hội”[3].
Như vậy các khái
niệm chủ yếu tập trung vào sự biến đổi trong cơ cấu, trong văn hóa, trong khuôn
mẫu xã hội,...Tuy vậy, để dễ dàng tiếp cận và giới định nội hàm nên hiểu biến đổi
xã hội ở nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Về nghĩa rộng, biến đổi xã hội hàm chỉ toàn bộ những thay đổi (tích cực và tiêu cực,
chất và lượng, khách quan và chủ quan) trong đời sống xã hội; với tầng
nghĩa hẹp thì biến đổi xã hội là sự biến
đổi trong kết cấu xã hội. Để đi sâu tìm hiểu tầng nghĩa sâu xa của biến đổi
xã hội, chúng ta tiến hành phân tích các kiểu biến đổi xã hội.
Phân loại biến đổi xã hội
Xã hội là một hệ
thống chỉnh thể rộng lớn và luôn trong trạng thái vận động, chuyển biến. Tùy
thuộc vào quy mô, chiều hướng, tính chất, tốc độ biến chuyển của xã hội mà người
ta chia thành các kiểu sau:
Thứ nhất, căn cứ vào quy mô có thể phân chia thành biến đổi
tổng thể và biến đổi bộ phận. Biến đổi tổng thể hàm chỉ sự biến đổi hệ thống cơ
cấu, chức năng của xã hội, cụ thể là sự biến đổi trong các mối liện tương tác
giữa các thành tố trong cơ cấu xã hội tổng thể. Ví dụ sự biến đổi từ xã hội chiếm
hữu nô lệ sang xã hội phong kiến, biến đổi từ xã hội phong kiến sang xã hội tư
bản, chuyển biến từ kiểu xã hội thực dân nữa phong kiến trong sang xã hội Xã hội
chủ nghĩa ở Việt Nam,…
Biến đổi bộ phận
chỉ sự biến đổi trong mối quan hệ giữa các bộ phận cấu thành nên xã hội. Biến đổi
bộ phận có tính chất đặc thù đó là sự biến đổi của nó không phải bao giờ cũng
“cùng hướng” và cùng gia tốc với sự biến đổi xã hội tổng thể. Chẳng hạn tốc độ
biến đổi về phương diện vật chất là rất nhanh nhưng biến đổi trong quan niệm,
giá trị, thể chế xã hội, văn hóa xã hội thường chậm hơn và có “độ trễ” nhất định.
Tuy vậy, cần phải nhấn mạnh rằng, giữa chúng có mối quan hệ tương hỗ, hữu cơ
nhau: tích lũy của những biến đổi cục bộ có thể dẫn đến biến đổi tổng thể; biến
đổi tổng thể có khả năng kéo theo biến đổi cục bộ.
Thứ hai, căn cứ vào phương hướng của biến đổi có thể phân chia thành
biến đổi theo hướng tiến bộ (tích cực) và biến đổi theo hướng thoái bộ (tiêu cực).
Biến đổi xã hội là một khái niệm trung tính, so với khái niệm phát triển, tiến
bộ thì hàm nghĩa của biến đổi xã hội rộng hơn rất nhiều, bởi nó bao hàm cả khái
niệm thoái bộ (biến đổi theo chiều hướng tiêu cực, thụt lùi). Biến đổi xã hội tức
là sự chuyển biến một cách hài hòa, tích cực, phù hợp với xu thế chung và quy
luật khách quan trong phát triển xã hội loài người. Tức là đời sống vật chất và
tinh thần đều được nâng cao; hầu hết các thành viên trong xã hội cảm thấy bình
đẳng, hạnh phúc. Ngược lại, gọi là sự biến đổi thụt lùi, là sự trì hoãn trong
phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của đại đa số thành viên có xu hướng
thoái bộ, tính cố kết xã hội lỏng lẽo, con người bi quan với cuộc sống. Tuy
nhiên, trong quá trình chuyển biến xã hội trên thực tế cho thấy, “tiến bộ” và
“thoái bộ” là hai xu hướng tồn tại song hành, nhất là xét trong một thời gian đủ
nhỏ thì biến đổi theo xu hướng tiến bộ hay xu hướng thoái bộ đều có tính tương
đối và chuyển hóa lẫn nhau. Do đó, khi nói biến đổi theo xu hướng nào thì cần đặt
nó trong bối cảnh lịch sử nhất định và xem xét một mô đun thời gian đủ lớn.
Thứ ba, căn cứ vào tốc độ của biến đổi có thể phân chia thành biến đổi xã hội chậm
và biến đổi xã hội nhanh. Biến đổi chậm là sự tích lũy về chất trong biến đổi
không có tính đột phá, nó đi từ ít đến nhiều một cách chậm chạp, từng bước.
Quan sát các biến đổi của xã hội loài người thì loại biến đổi kiểu này là phổ
biến. Biến đổi nhanh hay đột phá là sự biến đổi ở quy mô lớn, tốc độ nhanh, quyết
liệt, vượt bậc. Với kiểu biến đổi này, toàn bộ các bộ phận tổ thành của hệ thống
xã hội cũng như các kết cấu của nó chịu sự chuyển biến to lớn; từ một kiểu kết
cấu này chuyển sang một kiểu kết cấu mới.
Thứ tư, căn cứ vào mức độ kiểm soát và định hướng của con người trong quá trình
chuyển biến có thể phân chia thành biến đổi tự phát và biến đổi có kế hoạch. Phương
thức mà con người can thiệp, định hướng quá trình phát triển xã hội phụ thuộc
vào trình độ nhận thức đối với quy luật phát triển xã hội của chính con người.
Khi trình độ phát triển xã hội thấp, nhận thức của con người cũng chưa cao
(không theo kịp), có thể có sự “thúc đẩy” chuyển biến xã hội kiểu duy ý chí hay
mù quáng. Đối với con người mà nói, chuyển biến xã hội là một quá trình “tự
thân” của xã hội mà con người đôi khi cần phải “chuyển động theo” chứ không phải
là nhân tố định hướng. Nói cách khác, đó là sự chuyển biến tự phát. Khi xã hội
phát triển, nhận thức của con người được nâng lên, con người mong muốn xã hội
chuyển biến nhanh hơn (tốc độ), rộng hơn (phương diện) và chắc chắn hơn (tính
chất, tính bền vững). Nói khác đi con người vừa là nhân tố thúc đẩy vừa là chủ
thể kiểm soát sự phát triển, chuyển biến xã hội. Như vậy, chuyển biến có kế hoạch
là hình thức chuyển biến chủ yếu trong xã hội hiện đại.
Nhận xét
Đăng nhận xét