BÀN VỀ ĐỐI TƯỢNG CỦA XÃ HỘI HỌC
BÀN VỀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA XÃ HỘI HỌC
Khi tìm hiểu,
nghiên cứu bất cứ một ngành khoa học nào thì việc đầu tiên và cần thiết là phải
tìm hiểu đối tượng nghiên cứu của khoa học đó. Thế nhưng, vấn đề là ở chỗ, phạm
vi và đối tượng nghiên cứu của xã hội học, nếu đặt trong lịch sử phát triển hơn
gần hai thế kỷ của mình[1],
xã hội học và đối tượng của nó cũng không ngưng biến đổi cùng với sự chuyển biến
của xã hội và quá trình phát triển của khoa học xã hội nói chung. Mặc dù xác định,
giới hạn và định nghĩa về đối tượng nghiên cứu xã hội học có rất nhiều ý kiến
khác nhau, thậm chí đối lập nhau[2], nhưng nếu sắp xếp lại thì chủ yếu gồm mấy nhóm cụ
thể sau:
Nhóm thứ nhất, xác định đối tượng nghiên cứu của xã hội học là
toàn bộ xã hội (toàn bộ chỉnh thể xã hội với tư cách là một hệ thống). Đại diện
cho nhóm này là A. Comte và H. Spencer. Theo quan điểm của nhóm này thì đối tượng
nghiên cứu của xã hội học là toàn bộ đời sống xã hội, chính vì thế A. Comte
chia hệ thống xã hội thành hai bộ phận tổ thành chủ yếu là tĩnh học xã hội và động
học xã hội. Theo ông, nhiệm vụ của xã hội học cũng thành hai mảng chính là “động
lực học xã hội” và “tĩnh lực học xã hội”, do đó xã hội học là khoa học nghiên cứu
toàn bộ các quy luật, nguyên lý của tổ chức xã hội.
Nhóm thứ hai, xác định đối tượng nghiên cứu của xã hội học là
hành động xã hội. Đại diện cho nhóm
này có nhà xã hội học người Đức M. Weber và nhà xã hội học người Trung Quốc Tôn
Bản Văn (1897-1968). Xuất phát từ ý tưởng đưa khoa học tự nhiên vào khoa học xã
hội mà cụ thể là xã hội học, M. Weber mong muốn tìm kiếm những quy luật xã hội
cũng như các quy luật trong khoa học tự nhiên (tính khách quan của quy luật xã
hội). Tuy nhiên, ông cho rằng, tìm ra các quy luật xã hội không phải là mục
đích của xã hội học mà đó chỉ là phương tiện mà thôi. M. Weber chia tách các
quy luật xã hội với quy luật tự nhiên, từ đó ông cho rằng: hành động của con
người chính là đối tượng nghiên cứu của xã hội học. Xã hội học cần phải đi tìm
hiểu, lý giải ý nghĩa chủ quan trong hành vi của con người (những hành vi của
con người luôn “gởi gắm” và những hành động mang ý nghĩa tương ứng, đó chính là
sự khác biệt mang tính bản chất giữa con người và động vật). Do đó, xã hội học
của M. Weber được mệnh danh là xã hội học giải thích.
Nhóm thứ ba, cho rằng đối tượng nghiên cứu của xã hội là “cái
xã hội của xã hội”[3], nói một cách dễ hiểu đối tượng nghiên cứu của xã
hội học là “phần còn lại của các ngành khoa học xã hội khác”. Đại diện nhóm này
có các nhà khoa học thuộc trường phái Đại bách khoa toàn thư của Mỹ và nhà xã hội
học nổi tiếng người Trung Quốc Phí Hiếu Thông. Quan điểm của nhóm này cho rằng,
các ngành khoa học xã hội đều có đối tượng nghiên cứu của riêng mình trong xã hội,
cái còn lại (phần còn lại) chưa có khoa học nào (hoặc không thể, chưa thể)
nghiên cứu đến chính là “phần còn lại” của xã hội học và đó là đối tượng của
khoa học xã hội học.
Nhóm thứ tư, cho rằng đối tượng nghiên cứu của xã hội học
chính là sự kiện (sự thật), hiện tượng và vấn đề xã hội. Đại diện nhóm này có
nhà xã hội học người Pháp E. Durkheim (với khái niệm Social facts) và các nhà
xã hội học theo chủ nghĩa kinh nghiệm phương Tây và xã hội học theo trường phái
Chicago, Mỹ. Theo E. Durkheim, các sự thật xã hội tác động và quy định hành động
xã hội, đoàn kết xã hội. Nói cách khác, bằng cách nghiên cứu các hành động xã hội,
các sự thật xã hội, nhà xã hội học có thể nắm bắt, lý giải và đưa ra các quy luật
của sự vận hành xã hội.
Nhóm thứ năm, xác định xã hội học là khoa học về điều tra xã hội,
là khoa học hệ thống hóa phương pháp điều tra xã hội, là khoa học về phương
pháp luật khoa học xã hội. Đại diện nhóm này có nhà xã hội học Trung Quốc Cố Hữu
Minh,. Theo cách tiếp cận này thì xã hội học là khoa học đo lường xã hội, nói
cách khác là định tính, định lượng các sự kiện, hiện tượng, quá trình, biến đổi
và hành động xã hội.
Từ những giới định
về đối tượng xã hội học đã liệt kê ở trên, căn cứ vào tính chất đặc trưng của
khoa học xã hội học, chúng ta có thể định nghĩa về đối tượng xã hội học như
sau: xã hội học là khoa học thực chứng có
tính tổng hợp và ứng dụng, nghiên cứu quá trình, cơ cấu và các quy luật phát
triển của xã hội thông qua hành động xã hội và các mối quan hệ xã hội trong hệ
thống xã hội.
Với định nghĩa
này, chúng ta đã xác định được 4 bình diện chủ yếu là: góc độ nghiên cứu của xã
hội học (quá trình, cơ cấu và các quy luật
phát triển của xã hội), cách thức nghiên cứu của xã hội học (thực chứng), đối tượng nghiên cứu của xã
hội học (hành động xã hội và các mối quan
hệ xã hội) và tính chất của khoa học xã hội học (tính tổng hợp và ứng dụng).
Để tiến hành
nghiên cứu các quá trình, cơ cấu và quy luật phát triển của xã hội thì xã hội học
cần phải xuất phát từ những chuyển biến, mối quan hệ tương tác của các bộ phận
trong hệ thống xã hội. Nếu dùng nhãn quan của sự “cô lập” hay “tĩnh tại” sẽ khó
tách bóc được các quy luật phát triển của xã hội. Thế nhưng, có được góc độ và
đối tượng nghiên cứu thì cũng cần phải có cách thức, phương thức đúng đắn mới đạt
được mục tiêu nghiên cứu. Đó chính là phương thức thực chứng xuyên quan các
hành động xã hội, cơ cấu xã hội để nhìn nhận, phân tích các quy luật phát triển
của xã hội.
TS. Phạm Đi
(Tham kiến: Phạm Đi, Xã hội
học với Lãnh đạo, quản lý, Nxb. Thông tin và Truyền thông, 2020)
[1] Nếu lấy mốc là năm 1838, khi mà lần đầu
tiên A. Comte xây dựng và đưa vào hệ thống tri thức khoa học thuật
ngữ “sociology” với tư cách là một thuật ngữ khoa học.
[2] Xã hội học là gì? Một câu hỏi không phải
dễ trả lời trong một định nghĩa ngắn gọn. Các nhà xã hội học đương đại đi tìm
câu trả lời cho các câu hỏi như: xã hội học nghiên cứu cái gì? Nghiên cứu những
lĩnh nào trong đời sống xã hội? Nghiên cứu nó như thế nào? Xem: Nguyễn Minh
Hòa, Xã hội học - những vấn đề cơ bản,
Nxb Giáo dục, 1999, tr.12.
[3] Theo một số học giả Việt Nam thi đó chính
là “Mặt xã hội của xã hội”, từ đó xác định đối tượng của xã hội học là “nghiên cứu có hệ thống các quan hệ xã hội
xuyên qua các sự kiện, hiện tượng và quá trình xã hội”. Xem: Nguyễn Minh
Hòa, Xã hội học - những vấn đề cơ bản,
Nxb Giáo dục, 1999, tr.4&12.
Nhận xét
Đăng nhận xét