LI HÔN: CHUYỆN CỦA CÁ NHÂN HAY VẤN ĐỀ XÃ HỘI?

Từ những thực trạng….

So với các nước Âu-Mỹ và một số nước trong khu vực như Trung Quốc, Thái Lan, Malaixia thì tỉ lệ li hôn nói chung, tỉ lệ li hôn thô[1] nói riêng của Việt Nam là thấp. Tuy vậy, nếu thống kê số vụ li hôn trong phạm vi toàn quốc cũng như trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh trong những năm gần đây thì thấy rằng, tỉ lệ li hôn ngày một tăng lên. Tỉ lệ li hôn ngày một tăng cao là một hiện tượng xã hội tương đối phức tạp, là một cơ chế phức tạp ảnh hưởng và chịu tác động của nhiều nhân tố như: kết cấu nhân khẩu, quan niệm về luân lý đạo đức, vấn đề thực thi tư pháp, qui định về lập pháp, kết cấu gia đình, văn hóa dân tộc cũng như các yếu tố về kinh tế - chính trị - xã hội. Li hôn, một khía cạnh nào đó mà nói, nó là một chỉ bảo đáng tin cậy để phản ánh tổng hợp trong quan hệ hôn nhân-gia đình, là sự biến hóa trong quan niệm đạo đức xã hội của một xã hội hay một cộng đồng dân cư nói riêng.

Li hôn là sự lựa chọn tự nguyện và tự do của cá nhân khi cảm thấy đời sống hôn nhân hiện tại của mình không thỏa mãn (về vật chất, tinh thần) không còn phù hợp, không thể tiếp tục duy trì, cần một sự giải thoát. Trên bình diện này, ở một trình độ nhất định mà nói, là một sự tiến bộ (từ phía cá nhân và từ phía xã hội nói chung). Bởi sự đạt được sự tự do cá nhân trong li hôn nó cũng giống như việc tự do lựa chọn để đi đến hôn nhân của một con người, nói đến cùng là vấn đề về quyền lợi tự do của cá nhân. Nói cách khác, tự do li hôn là một bộ phận không thể khiếm khuyết của vấn đề tự do hôn nhân, là hai mặt đối lập của vấn đề hôn nhân gia đình. Những người có trình độ văn hóa càng cao thì việc nhận thức vấn đề nói trên càng rõ ràng và quyết đoán. Cùng với sự phát triển xã hội nói chung, nhận thức của con người cũng từng bước được nâng cao, nhận thức về li hôn khi hôn nhân không thể duy trì tiếp tục cũng bình thường hóa và lý trí hơn, lý tính hơn. Hầu hết các vụ li hôn trong mấy năm gần đây ở thành phố Hồ Chí Minh, đương sự có trình độ văn hóa cao, có nghề nghiệp ổn định. Theo nhận định của chúng tôi, biến số “li hôn” và biến số “học vấn” là hai biến số tương quan tuyến tính. Số liệu thực tế đã chứng minh, học lực càng cao thì khả năng dẫn đến li hôn càng lớn. Điều này khiến nhiều nhà nghiên cứu suy ngẫm. Nhưng thực tế điều này không chỉ đúng với Thành phố Hồ Chí Minh, với Việt Nam mà còn nghiệm đúng với nhiều quốc gia trong khu vực và trên thế giới, trong đó có các nước phát triển. Các nhà xã hội học đã nghiên cứu và chỉ ra rằng, thực ra biến số “học vấn” không tác động trực tiếp đến biến “li hôn” nhưng thông qua nhiều giai đoạn trung gian (biến trung gian) một cách rất phức tạp: chẳng hạn có những mô hình tác động như: học vấn caoà có điều kiện giao lưu tiếp xúc nhiều, rộng (quan hệ xã hội rộng) à có sự so sánh với đối ngẫu (vợ/chồng mình)à ngoại tìnhàli hôn; học vấn cao à nghề nghiệp ổn địnhàthu nhập caoà thỏa mãn nhu cầu cao hơnà xung đột gia đìnhà li hôn; học vấn caoà công việc ổn định nhưng thu nhập không caoàmâu thuẫn về thu nhậpàxung đột về kinh tếàli hôn...

Như thế có thể thấy rằng, li hôn là một hiện tượng xã hội mà nguyên nhân của nó không đơn giản và đơn biến. Như đã nói, nó chịu tác động của nhiều yếu tố về kết cấu nhân khẩu, quan niệm về luân lý đạo đức, vấn đề thực thi tư pháp, qui định về lập pháp, kết cấu gia đình, văn hóa dân tộc cũng như các yếu tố về kinh tế - chính trị - xã hội.

Ngày nay, li hôn đã trở thành một hiện tượng bình thường trong xã hội, độ tuổi của đương sự dần “trẻ hóa”. Theo nhiều số liệu nghiên cứu, độ tuổi li hôn chủ yếu tập trung ở tầng tuổi 25-45, đồng thời lứa tuổi thanh niên 23 đến 33 là độ tuổi có tỉ lệ li hôn cao nhất, tức là thế hệ 8x, 9x. Tình trạng li hôn  và nhóm tuổi có sự tương quan: Nhóm từ 20-29 tuổi chiếm 20%, từ 30-39 tuổi chiếm 60%, từ 40-59 tuổi chiếm 20%.

Và việc đi tìm một số nguyên nhân

Thông thường, các nhà nghiên cứu thường chia thành nguyên nhân từ phía cá nhân và nguyên nhân từ phía xã hội. Theo chúng tôi, có thể tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến tình trạng li hôn như hiện nay là:

Nguyên nhân từ phía cá nhân: Từ góc độ nhận thức cá nhân mà nói, nguyên nhân dẫn đến li hôn gồm:

Thứ nhất, quan niệm, tư tưởng cá nhân thay đổi: kết hôn, đối với người Việt Nam mà nói là một việc hệ trọng và đại sự của một con người, thế nhưng, cùng với sự phát triển của xã hội, quan niệm hôn nhân thời nay đã dần thay đổi, nhất là trong những năm gần đây, quan niệm về tình yêu hôn nhân đã có hướng “mở” hơn, thậm chí có trào lưu gọi là “hôn nhân siêu thoát” (thoát khỏi những rào cản của quan niệm tình yêu hôn nhân truyền thống, thoát khỏi sự ràng buộc của gia đình..), tình một đêm, tình internet, tình chớp nhoáng, “bác sĩ bảo thì cưới”… Sự phát triển nhanh chóng của hệ thống Internet khuyến con người có nhiều cơ hội hơn tiếp xúc với nhiều nguồn thông tin và cũng từ đó chịu ảnh hưởng của những tư tưởng, nhận thức về tình yêu hôn nhân của các nước phương Tây. Một thực tế không thể phủ nhận là, văn hóa ngoại lai đã và đang xâm nhập, xâm thực vào văn hóa nước ta mà quan niệm về hôn nhân và gia đình không là ngoại lệ, những quan niệm “mở” về hôn nhân, đề cao giá trị cá nhân, lối sống cá nhân. Hành vi hôn nhân dần chuyển thành hành vi của cá nhân (không phải là của gia đình và dòng họ như trước đây), tự lựa chọn và tự quyết định trong hành vi hôn nhân của mình. Hợp thì sống, không hợp thì “phân”, quan niệm hôn nhân bền vững dần bị mờ nhạt, xem nhẹ; thái độ của con người trước hôn nhân (cũng như li hôn) thường dễ dãi, điều này dẫn đến tỉ lệ li hôn ngày càng cao. Chúng ta có thể quan sát thấy rằng, việc “ăn cơm trước kẻng”, tiền dâm hậu thú dẫn trở thành những hiện tượng bình thường trong xã hội hiện đại, hiện tượng “bác sĩ bảo cưới thì cưới”, “cưới chạy” là hiện tượng không phải hiếm, chính những hiện tượng này cũng là nguyên nhân “thúc đẩy” tỉ lệ li hôn ngày càng cao.

Thứ hai, bạo lực gia đình gia tăng: bạo lực gia đình là một “sát thủ” hết sức nguy hiểm trong đời sống gia đình. Đó là chưa xét đến, cái gọi là “bạo lực gia đình” không chỉ là hiện tượng “bị đánh đập, ngược đãi” mà nó còn tiềm ẩn như là “nguyên nhân khác”, bởi bạo lực gia đình không chỉ nói đến hành động và còn nói đến hành vi và cả những điều tế nhị khó có thể nói ra.

Nguyên nhân từ phía xã hội: Từ góc độ nhận thức xã hội, nguyên nhân li hôn gồm có

Thứ nhất, sự ngưng tụ, cố kết xã hội ngày càng yếu đi: thực tế chứng minh rằng, nơi nào mà tiến trình đô thị hóa, công nghiệp hóa càng nhanh, càng cao thì nơi đó tỉ lệ li hôn càng cao, thành phố Hồ Chí Minh không là ngoại lệ. Như thế có thể nói rằng, tỉ lệ li hôn cao là một trong những hiệu ứng xã hội của tiến trình công nhiệp hóa, đô thị hóa. Những địa bàn, quốc gia, khu vực nào mà ở đó có tiến trình đô thị hóa cao, mở cửa thì quan niệm giá trị của con người cũng như phương thức sống cũng đa nguyên hóa và cởi mở hơn. Do bởi hiện tượng di dân (nhất là từ nông thôn sang đô thị) nên sự lưu động, biến động về nghề nghiệp và chỗ ở tại những quốc gia, khu vực này cũng cao, hiện tượng “lưỡng cư” [2] khiến quan hệ gia đình suy giảm, làm cho quan hệ vợ chống và cả quan hệ giữa vợ chồng và con cái bị ảnh hưởng, từ đó làm cho kết cấu hạt nhân hóa gia đình, tỉ suất sinh giảm. Kéo theo nó là suy yếu về “mạng lưới thân thuộc” và sức ngưng kết của gia đình giảm đi, đây là nguyên nhân dẫn đến tỉ lệ li hôn ngày càng cao ở nước ta nói chung ở các thành phố lớn nói riêng.

Thứ hai, sự biến đổi về quan niệm xã hội về hôn nhân: sự biến hóa về quan niệm hôn nhân trong xã hội hiện đại có thể nói là toàn diện và nhiều góc độ. Bất luận là phương Đông hay phương Tây thì mục đích của hôn nhân truyền thống là việc “lấy vợ lấy chồng, sinh con đẻ cái”, nối dõi tông đường. Cùng với sự truyền bá về chủ nghĩa nhân văn tự do, bình đẳng, bác ái; cùng với sức sản xuất ngày càng nâng lên; thậm chí là những kĩ thuật phòng tránh thai ngày càng hiện đại, con người bắt đầu truy cầu cái gọi là tình yêu lãng mạn và chủ nghĩa hưởng thụ cá nhân. Hôn nhân, trên một điều kiện kinh tế nào đó, đã thay đổi cách thức và mục đích của hôn nhân truyền thống. Kiểu quan niệm “một túp lều tranh đôi trái tim vàng”, “sống qua ngày” dần bị đẩy lùi ra khỏi cách suy nghĩ của nhiều cặp vợ chồng, con người muốn truy cầu hạnh phúc bằng cách hưởng thụ mức sống ngày càng cao, điều kiện sinh hoạt ngày càng hiện đại, sau kết hôn phải “hạnh phúc và đầy đủ” hơn trước kết hôn. Nếu những điều kiện đó không đạt được thì hai chữ “li hôn” được “ưu tiên đặt lên bàn nghị sự”.

Thứ ba, chức năng của gia đình thay đổi, tính trọng yếu của gia đình giảm đi, sức cố kết giữa các thành viên trong gia đình suy giảm: trong xã hội truyền thống, gia đình là một tổ chức khép kín, tự cung tự cấp, nó thực hiện những chức năng cơ bản như giáo dục, kinh tế, điều hòa các quan hệ xã hội, thỏa mãn nhu cầu về giới tính… Do đó, con người phụ thuộc vào gia đình rất lớn. Cùng với hình thái ý thức xã hội và quan niệm xã hội thay đổi, sự phân công lao động xã hội, một số chức năng của gia đình dần “chuyển giao” cho xã hội, tính phụ thuộc của con người vào gia đình dần ít đi, không ít người chỉ xem gia đình là nơi để “ăn cơm và ngủ nghỉ”, sự gắn kết của gia đình và các thành viên trong gia đình lỏng lẻo, đây cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng li hôn cao như hiện nay.

Thứ tư, sự thay đổi về lập  pháp, cụ thể mà nói là đơn giản hóa thủ tục pháp luật về li hôn: từ thủ tục đăng kí hôn nhân đến các thủ tục liên quan đến li hôn dần được bình thường hóa, “đơn giản hóa”. Có thể nói, trước đây, nhiều người không “lựa chọn li hôn” vì thủ tục pháp lý về li hôn rất phức tạp và khó khăn, thêm nữa khi ra tòa li hôn lại phải tiến hành những thủ tục pháp lý không đơn giản chút nào. Ngược lại, hiện nay thủ tục li hôn hết sức giản đơn, án phí hết sức thấp, đây cũng là một nguyên nhân dẫn đến tình trạng li hôn cao như hiện nay. Hiện nhiều nước trên thế giới  chỉ cần 1 đến 2 đô la Mỹ và 20 phút và có thể giải quyết “đường ai nấy đi”. Đối với nước ta, việc qui định án phí cho một vụ việc li hôn có phần “cao hơn” một số nước, nhưng với mức án phí như hiện nay (200.000đ/vụ việc) thì quả không phải mà một “trở ngại” nào cho đương sự phải đắn đo suy nghĩ khi quyết định li hôn.

Thứ năm, pháp luật nước ta hiện nay chưa quy định rõ ràng về vấn đề về bồi thường về tổn hại do li hôn gây ra. Đối với phạm vi, số tiền về bồi thường thiệt hại do li hôn gây ra cho đương sự, pháp luật vẫn chưa có quy định rõ ràng, minh bạch. Đối với việc bồi thường về nghĩa vụ trung thành [3] của vợ hoặc chồng khi bên kia có những hành vi trái với luật hôn nhân gia đình cũng chưa có quy định cụ thể. Chính sự chưa hoàn thiện về mặt lập pháp này khiến nhiều vụ “li hôn oan” đã và đang xảy ra.

Thứ sáu, địa vị của phụ nữ ngày càng được nâng cao: phụ nữ hiện đại đều tham gia vào guồng máy lao động xã hội, có thu nhập và độc lập về kinh tế, đây cũng là một nguyên nhân tiềm ẩn dẫn đến li hôn.Trên phạm vi thế giới mà nói, hiện nay tỉ lệ phụ nữ đứng đơn li hôn (nguyên cáo) khoảng 60-70%. Cùng với sự phát triển của xã hội, địa vị của người phụ nữ ngày càng được nâng cao và được xã hội thừa nhận, khẳng định. Phụ nữ bắt đầu bước ra ngoài xã hội và tham gia vào guồng máy lao động xã hội. Nói khác đi, người phụ nữ đã có chỗ đứng trong xã hội, địa vị xã hội, nhất là địa vị kinh tế ngày càng được nâng cao và khẳng định. Tuy nhiên, có sự khác biệt, mâu thuẫn thậm chí xung đột về quan niệm về giới trong xã hội truyền thống và xã hội hiện đại, cho nên vai trò và địa vị của người phụ nữ trong gia đình chưa có sự biến hóa thực chất, đây mới là nguyên nhân của hiện tượng người phụ nữ là nguyên cáo trong các vụ li hôn hiện nay. Từ đây có thể nói thêm rằng, bất luận là người phụ nữ ý thức được vai trò, địa vị của mình trong gia đình và ngoài xã hội như thế nào, bất luận là người phụ nữ có tham gia vào nguồn máy lao động xã hội ở mức độ nào thì đấy không phải và không thể là nguyên nhân khiến tỉ lệ li hôn cao, khiến nhiều gia đình sụp đổ mà ngược lại, một khi gia đình là “rào cản”, là chứng ngại vật trong bước đường của người phụ nữ tiến vào xã hội, nhận thức của các thành viên trong gia đình chưa biến hóa một cách thực chất thì đó mới là nguyên nhân khiến người phụ nữ là nguyên cáo trong các vụ li hôn. Thêm nữa, hiện nay, dư luận xã hội ngày càng “khoan dung” đối với hiện tượng li hôn và với chính đương sự cũng là nhân tố xã hội “thúc đẩy” li hôn tăng cao. Ngày xưa, xã hội nói chung và cộng đồng dân cư nói riêng nhìn và đánh giá một người (nhất là phụ nữ) đã li hôn bằng những ánh mắt và nhận định khắc khe, thậm chí dè bỉu, thì hiện nay hoàn toàn ngược lại, li hôn nói chung, đương sự li hôn nói riêng là hiện tượng hết sức bình thường, nếu không muốn nói là “khuyến khích” khi cảm thấy không muốn chung sống, khi cảm thấy không hợp nhau hay có những mâu thuẫn, xung đột không thể giải quyết thì lời khuyên được “ưu tiên” là li hôn.

Thứ bảy, ngoài những nguyên nhân về kinh tế, văn hóa, chính trị thì còn có nguyên nhân là sự biến đổi trong quan hệ gia đình và xã hội, cơ chế điều tiết về đạo đức bị suy thoái, sự xung đột giữa những thang giá trị, khuynh hướng giá trị đa nguyên hóa từ chủ thể hôn nhân, khiếm khuyết tránh nhiệm hôn nhân (những nhân tố ảnh hưởng đến đạo đức xã hội nói chung và đạo đức hôn nhân nói riêng). Thêm nữa, nguyên nhân về giáo dục nói chung, giáo dục tình yêu hôn nhân và gia đình cho các đối tượng chuẩn bị kết hôn còn hạn chế. Ngoài những nguyên nhân nói trên, nhiều nhà nghiên cứu còn cho rằng, hiện thượng li hôn còn do những nguyên nhân phái sinh như những vấn đề liên quan đến kinh tế, nợ nần, nhà cửa, đất đai, hiện tượng li hôn giả…chẳng hạn, khi sắp dẫn đến phá sản vì nợ nần, hai bên quyết định “li hôn giả” và toàn bộ tài sản dành cho bên kia, bên còn lại sẽ là “vô sản” và như thế là tránh được việc nhà nước hoặc chủ nợ đến siết nợ.

Thay cho lời kết

Thiên hạ chi bản tại quốc, quốc chi bản tại gia, sự hài hòa của gia đình là điều kiện cơ bản cho sự hài hòa của đất nước. Chúng ta không võ đoán mà nói rằng tỉ lệ li hôn cao sẽ ảnh trực tiếp đến sự hài hòa của xã hội, tuy nhiên nhìn suốt chiều dài lịch sử cũng như lấy một số nước làm minh chứng, có thể khẳng định rằng, tỉ lệ li hôn cao có ảnh hưởng đến sự ổn định phát triển và sự hài hòa của một gia đình, cộng đồng, xã hội.

Li hôn đồng nghĩa với việc giải thể một tế bào xã hội: gia đình. Nó không chỉ là sự đau đớn, thống khổ cho bản thân đương sự mà nó còn là nỗi đau của cả xã hội, bởi li hôn hiện nay đã trở thành một vấn đề nhức nhối cho xã hội: phá vỡ hệ thống luân lý gia đình, gây bất ổn cho xã hội. Bởi không thể có một xã hội ổn định mà tế bào của nó, gia đình, không hạnh phúc. Đặc biệt khi bước vào thế kỉ mới, thế kỉ 21, tỉ lệ li hôn đã nhanh chóng tăng lên, chính lẽ đó mà có người đã ví “cổ xe li hôn” đã chuyển sang con đường cao tốc: ngày một gia tốc mà không thể dừng lại. Đó là điều đáng lo ngại. Do đó, nhiều quốc gia và thành phố lớn đang tìm cách ngăn chặn tỉ lệ li hôn đang gia tăng hiện nay, nhiều nước có những động thái tích cực trong việc nghiên cứu thực tiễn, đúc rút kinh nghiệm từ nhiều nước để áp dụng vào việc ngăn chặn làn sóng li hôn của chính quốc gia mình, thành phố mình.



[1] Hiện nay, theo các nhà dân số học và xã hội học thì tỉ lệ li hôn được tính theo nhiều cách trong đó có hai cách chủ yếu là tỉ lệ li hôn thô và tỉ lệ li hôn tinh. Tỉ lệ li hôn tinh (thường gọi chung là tỉ lệ li hôn) được tính bẳng tsố giữa những cặp vợ chồng li hôn với những cập vợ chồng kết hôn trong một thời điểm tại một địa bàn (đơn vị tính thường %); còn tỉ lệ li hôn thô được tính bằng tỉ số các cặp vợ chồng li hôn với tổng số nhân khẩu của cùng một địa bàn trong một thời điểm nhất định (thường tính ). Do đó, khi nói “tỉ lệ li hôn” thường chỉ tỉ lệ li hôn tinh. Theo nhiều nguồn khác nhau cho thấy, tỉ lệ li hôn của Việt Nam (thống kê năm 2005) khoảng 4.8%; Mỹ là 46.8%; Thụy Điển 54.9%; Úc 46.1%; Pháp 38.3%; Đức 39.4%; Nhật 31.9%.

[2] Khái niệm này hàm ý chỉ, do bởi di cư nhiều cặp vợ chồng phải sống xa nhau. Chồng (hoặc) vợ phải di cư đến thành phố để tìm việc và thuê nhà ở thành phố; đối ngẫu của mình phải ở lại nơi quê nhà. Kéo theo đó là việc học hành, dạy dỗ con cái, các quan hệ gia đình trở nên suy yếu.

[3] Khái niệm và qui định về “nghĩa vụ trung thành” được một số nước qui định rõ trong luật hôn nhân và gia đình, chúng tôi sẽ nói rõ hơn khái niệm này trong phần kiến nghị.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

PHẦN TẦNG XÃ HỘI: NỘI DUNG, BẢN CHẤT, TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN VÀ VẬN DỤNG VÀO THỰC TIỄN CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY

GIA ĐÌNH VÀ CHỨC NĂNG CỦA GIA ĐÌNH

CƠ CẤU DÂN SỐ THEO GIỚI TÍNH, ĐỘ TUỔI VÀ PHÂN BỐ DÂN CƯ