NHỮNG “NGUYÊN
TẮC VÀNG” TRONG THU HỒI ĐẤT
Trong quá trình phát triển xã hội
nói chung, từng vùng miền hay mỗi thành phố nói riêng việc thu hồi đất để phục
vụ cho lợi ích chung là điều khó tránh khỏi. Thế nhưng, thu hồi đất không đơn
giải là chỉ “lấy lại đất” theo nghĩa đơn giản nhất của nó mà nó liên đới đến
nhiều vấn đề khác như vấn đề công bằng xã hội, ổn định xã hội, vấn đề sinh
thái, phúc lợi xã hội, liên quan đến lĩnh vực ý tế, giáo dục, văn hóa thậm chí
nó còn liên quan đến vấn đề an ninh quốc gia. Bởi đất đai không chỉ là tài sản,
tư liệu sản xuất mà còn là sự gắn kết xã hội, tinh thần xã hội, văn hóa xã hội
thậm chí là vấn đề tâm linh.
Chính lẽ đó, công tác thu hồi đất
cần phải vừa hợp lý, vừa hợp tình; vừa phù hợp với qui luật thị trường nhưng
cũng phải phù hợp với truyền thống, đạo đức, văn hóa của từng địa phương, khu vực
thậm chí từng con người gắn bó với nó.
Từ góc nhìn đó, đối với công tác thu hồi đất đai, theo chúng tôi cần phải tuân thủ những
nguyên tắc vàng sau đây:
Nguyên tắc thứ nhất: “dĩ nhân
vi bản”: Nhà nước của
chúng ta là Nhà nước của dân, do dân, vì dân do vậy, trong hầu hết các chính sách phát triển kinh tế xã hội, chúng ta cần nhấn mạnh và tôn trọng đến nguyên tắc “dĩ nhân
vi bản”, tức là xem trọng yếu tố con người, lấy con người làm mục tiêu của sự phát triển, tức “dân làm gốc”, lợi ích chính đáng của người dân cần phải được bảo đảm
và là điều kiện tiên quyết. Người dân
có quyền tham gia vào các lĩnh vực và hoạt động tương quan để bảo đảm quyền lợi hợp pháp
của mình đồng thời thỏa mãn về nhu cầu phát triển và sinh tồn của chính bản thân họ. Đối với
công tác thu hồi đất, người dân được quyền tham gia đóng góp những ý kiến, kiến nghị, yêu
sách, thậm chí đưa ra những đối sách phù hợp với bản thân, cộng đồng mà họ đang
sống; về phía cơ quan hữu quan, trong quá
trình thu hồi đất luôn chú ý đến nhu cầu, lợi
ích, quyền lợi của cư dân; hạn chế tối đa những biến cố trong vấn đề thu hồi đất của người dân, đặc biệt là các nhóm yếu thế,
nhóm dễ bị tổn thương.
Nguyên tắc thứ hai: điều hòa lợi
ích của cá nhân, tập thể và quốc gia. Thực tiễn đã chỉ ra rằng, trong quá
trình thu hồi đất để phục vụ cho mục đích quốc gia, nơi nào làm tốt công tác tuyên truyền,
nâng cao nhận thức của người dân khi phải giao đất lại cho nhà nước để phục vụ
cho công việc chung thì nơi đó hạn chế tối
đa những xung đột (nhất là xung đột về lợi ích) và công tác thu hồi đất sẽ “suôn sẻ”,
“xuôi chèo mát mái”, thậm chí người bị thu hồi đất cảm
thấy “được” nhiều hơn là mất. Nói cách
khác, khi giải quyết hợp lý và điều hòa được lợi ích giữa cá nhân, tập thể và quốc
gia thì công việc suôn sẻ (thậm chí người
dân hiến thêm đất, không kì kèo, dây dưa...). Công tác đền bù sẽ thuận lợi và “hợp tình hợp lý” khi các lợi ích này
được điều hòa: người dân “không cảm thấy thua thiệt”; cộng đồng “không cảm
thấy mất mát”(mất mát về những giá trị văn hóa, văn vật-văn hiến, những giá trị
cộng đồng, giá trị tôn giáo, tín ngưỡng...) và nhà nước cũng được lợi từ.
Nguyên tắc thứ ba: phải tiết
kiện tối đa nguồn tài nguyên đất, qui hoạch hợp lý tài nguyên đất và rừng. Nhìn lại những
năm gần đây, chúng ta đã “khai thác” quá mức nguồn
tài nguyên đất, tài nguyên rừng khiến phát sinh nhiều hệ lụy xã hội mà nhiều
năm sau vẫn không thể khắc phục được như lũ lụt, sạt lỡ đất đá, phá hủy rừng...
đây chính là bài học nhãn tiền chúng ta phải đối diện. Do đó, trong công tác quản lý tài nguyên đất hiện nay chúng ta cần phải nâng cao ý
thức về quản lý chặt chẽ nguồn tài nguyên này. Tránh trường hợp thu hồi đất của
người nông dân nhưng không sử dụng (hoặc sử dụng không đúng mục đích) rốt cuộc
người nông dân mất đất, thất nghiệp nhưng chính mảnh đất bị thu hồi đó thì bỏ
hoang hoặc bị người khác trục lợi, gây nên sự lãng phí chung cho xã hội và phát
sinh nhiều vấn đề xã hội phức tạp khác.
Nguyên tắc thứ tư: điều hòa
giữa bảo vệ môi trường sinh thái với khai thác và sử dụng tài nguyên, chú ý đến
phát triển bền vững. Phát triển bền vững đã và đang trở thành thành tố cơ bản
trong triết lý phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới. Khai thác quá mức
quĩ đất (bao gồm cả đất rừng, đất trồng cây lâu năm) mà không có tầm nhìn chiến
lược trong công tác qui hoạch thì cái giá phải trải cho tương lai là hết sức
nghiêm trọng. Chính lẽ đó, việc quyết định thu hồi (hay không thu hồi) đất và mục
đích của việc thu hồi đó cần phải cân nhắc giữa cái trước mắt với cái lâu dài,
giữa cái lợi và cái hại và luôn phải ý thức được yếu tố môi trường sinh thái, bởi không thể gọi là phát triển bền vững khi chỉ chú ý
đến phát triển mà không chú ý đến môi trường.
Nguyên tắc thứ năm: phải có
qui hoạch hợp lý với từng vùng miền. Thực tiễn đã cho thấy, nhiều địa phương
tiến hành thu hồi đất hết sức ngẫn hứng nếu không muốn nói là tùy tiện. Thu hồi
đất của người dân mà không biết việc thu hồi đó nhằm mục đích gì (Tiên Lãng là
một ví dụ), việc thu hồi đó có gắn với một qui hoạch phát triển cụ thể nào ở hiện
tại hay trong tương lai hay không. Chỉ biết lấy đất để “sau này giảm bớt tiền đền
bù” quả thật là một ý nghĩ “dĩ quan vi bản” hay nói thẳng ra là một cách nghĩ ấu
trĩ, thiếu trách nhiệm. Thu hồi đất không gắn với qui hoạch vừa gây lãng phí
chung cho xã hội vừa tổn hại đến tài sản, tinh thần của người bị thu hồi; vừa
gây nên sự bất công bằng cho xã hội vừa mất lòng tin trong nhân dân.
PHẠM ĐI
Nhận xét
Đăng nhận xét