ĐÀ NẴNG VỚI VIỆC HUY ĐỘNG, BỐ TRÍ NGUỒN LỰC CHO PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ THÔNG MINH

 

ĐÀ NẴNG VỚI VIỆC HUY ĐỘNG, BỐ TRÍ NGUỒN LỰC CHO PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ THÔNG MINH - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

1. Đặt vấn đề

Cùng với tiến trình phát triển đô thị xanh, đô thị sinh thái, đô thị bền vững, đô thị tri thức thì đô thị thông minh (ĐTTM) đã, đang và sẽ là xu thế, khuynh hướng phát triển của toàn nhân loại[1]. Nói cách khác, ĐTTM là xu hướng phát triển tất yếu không còn khẩu hiệu suông mà thực chất là bước đi, là giải pháp, là sự lựa chọn của nhiều quốc gia trên thế giới nhằm hướng đến mục tiêu phát triển đô thị bền vững, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân, thúc đẩy tiến trình phát triển xã hội theo hướng hiện đại, văn minh. Theo nghiên cứu và dự báo của các chuyên gia, xu thế phát triển đô thị của Việt Nam chủ yếu là hướng đến phát triển đô thị xanh- thông minh[2]. Những năm gần đây, thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương cũng như cộng đồng doanh nghiệp và nhiều thành phần kinh tế trong xã hội đã nỗ lực nghiên cứu, khai thác, ứng dụng phát triển ĐTTM tại Việt Nam ở nhiều cấp độ khác nhau. Trước xu thế chung về phát triển ĐTTM trong cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 trên thế giới, Việt Nam xác định, phát triển ĐTTM là một nội dung để thực hiện đột phá[3].

Để kiến tạo ĐTTM không chỉ cần cơ chế, chính sách, thể chế hay sự quyết tâm, vào cuộc của hệ thống chính trị, người dân, doanh nghiệp mà, điều tiên quyết phải có sự đầu tư về nguồn lực. Nói cách khác, huy động và bố trí các nguồn lực (nhất là nguồn lực tài chính) có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với việc triển khai thực hiện các chính sách, đề án phát triển ĐTTM. Do đó, ngay từ đầu Đà Nẵng đã xác định: (i) Tranh thủ các chương trình, dự án, nguồn vốn của Trung ương trong lĩnh vực phát triển và ứng dụng CNTT; (ii) Ưu tiên bố trí kinh phí thực hiện các chương trình ứng dụng và phát triển CNTT hằng năm cho các cơ quan, đơn vị, địa phương của thành phố để đẩy mạnh ứng dụng CNTT; (iii) Huy động các nguồn vốn vay ODA, tài trợ không hoàn lại trong xây dựng TPTM; (iv) Triển khai hình thức hợp tác công - tư (PPP) theo đó nhà nước cho phép doanh nghiệp cùng tham gia đầu tư vào các dịch vụ hoặc công trình công cộng của nhà nước; (v) Phát triển và áp dụng các ứng dụng thông minh có thu phí với hình thức phù hợp và khuyến khích người dân sử dụng (không bắt buộc) nhằm tạo thêm nguồn kinh phí tái đầu tư cho các dự án, ứng dụng thông minh khác.

Trong thời gian qua, nhất là quá trình triển khai hiệu quả Kế hoạch thực hiện Đề án thành phố thông minh (TPTM) trong giai đoạn 2022-2025 (ban hành tại Quyết định số 934/QĐ-UBND ngày 07/4/2022), đồng bộ với triển khai Đề án Chuyển đổi số trên địa bàn thành phố đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 và các Kế hoạch thực hiện Chiến lược phát triển Chính quyền số, Kinh tế số, Xã hội số,... thành phố Đà Nẵng đã thực sự quyết liệt trong tiến trình xúc tiến thực hiện các chính sách phát triển TPTM, trong đó có công tác huy động, bố trí các nguồn lực mà trọng điểm là nguồn lực tài chính và nguồn nhân lực, bước đầu đã mang lại hiệu quả đáng ghi nhận, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu về ĐTTM.

2. Thực trạng về công tác huy động , bố trí các nguồn lực

Với quyết tâm đến năm 2030 Đà Nẵng sẽ phải “hoàn thành xây dựng ĐTTM kết nối đồng bộ với các mạng lưới ĐTTM trong nước và khu vực ASEAN; GRDP bình quân đầu người theo giá hiện hành đạt khoảng 8.700 USD; tỉ trọng tổng sản phẩm trên địa bàn của Đà Nẵng so với cả nước đạt trên 2%; cơ cấu kinh tế: Ngành dịch vụ 62 - 65%, công nghiệp và xây dựng 28 - 30%, nông nghiệp 1 - 2%; quy mô dân số đạt khoảng 1,5 triệu người; giải quyết việc làm mới hằng năm trên 3,5 vạn lao động; tỉ lệ lao động qua đào tạo đạt trên 70%; chênh lệch giữa nhóm thu nhập cao nhất và nhóm thu nhập thấp nhất không vượt quá 5,0 lần; người dân được tiếp cận đầy đủ và công bằng với nước uống và sinh hoạt an toàn, đặc biệt an toàn trước thiên tai; bảo đảm 100% nước thải nguy hại được xử lý,…”[4], Đà Nẵng cần phải quyết tâm lớn, nỗ lực nhiều mặt, trong đó có việc huy động và bố trí các nguồn vốn như một giải pháp về tài chính.

Xác định kiến tạo ĐTTM là nhiệm vụ, là sứ mệnh, mục tiêu mà Đà Nẵng phải hướng đến, do đó, trên “đường đua đô thị thông minh”, xác lập và định hình “thành phố đáng sống” đã được xác định tại Đề án xây dựng TPTM tại thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2018-2025, định hướng đến năm 2030” (ban hành kèm Quyết định số 6439/QĐ-UBND ngày 29-12-2018 của UBND thành phố Đà Nẵng. Theo đó, giai đoạn đầu 2018 - 2020 thực hiện sẵn sàng hạ tầng, nền tảng và dữ liệu thông minh. Tổng kinh phí thực hiện 939 tỷ đồng, trong đó, thu hút đầu tư từ hình thức hợp tác công-tư (PPP) chiếm 550 tỷ đồng, doanh nghiệp đầu tư 46 tỷ đồng; Giai đoạn 2021-2025 thực hiện thông minh hóa các ứng dụng với tổng kinh phí 1.191 tỷ đồng. Trong đó, vốn PPP chiếm 700 tỷ đồng, vốn vay ODA chiếm 150 tỷ đồng, doanh nghiệp đầu tư 36 tỷ đồng; Giai đoạn 2026-2030 thực hiện thông minh hóa các ứng dụng CNTT trên cơ sở tổng kết hoạt động giai đoạn 2021-2025.

Do đó, việc huy động, bố trí các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực – nguồn kinh phí) để thực hiện chính sách ĐTTM đóng vai trò rất quan trọng, là một trong bốn trụ cột thực hiện chính sách phát triển TPTM. Nói cách khác, vấn đề tài chính là một trong những nhiệm vụ cần phải đặt ra để đảm bảo thực thi các nhiệm vụ, mục tiêu phát triển ĐTTM của Đà Nẵng.

Về nguồn kinh phí: Trước hết, để triển khai chính sách ĐTTM cần phải có một nguồn kinh phí tương đối lớn để tiếp cận có hiệu quả các sản phẩm công nghệ thông tin-tuyền thông (CNTT – TT) hiện đại, triển khai đồng bộ và rộng rãi trên các lĩnh vực đời sống xã hội, thuê mướn các nhà tư vấn, đầu tư có năng lực trong và ngoài nước triển khai thực hiện các hạng mục phức tạp, kỹ thuật hiện đại. Vì thế, ngoài việc đẩy mạnh phát triển kinh tế, tạo nguồn lực tài chính dồi dào, chính quyền các cấp của Thành phố đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp để thu hút vốn đầu tư, khuyến khích các đơn vị tư nhân tài trợ hoặc tham gia bằng hình thức hợp tác công tư, thực hiện chính sách ưu đãi vốn vay đối với các doanh nghiệp hoạt động trên lĩnh vực CNTT; tạo cơ chế thuận lợi để các doanh nghiệp thực hiện việc thí điểm dùng thử CNTT trên một số lĩnh vực.

Với Đà Nẵng, nguồn kinh phí đầu tư cho việc thực hiện chính sách  được đa dạng hóa và được bổ sung từ nhiều nguồn, trong đó có nguồn vốn từ ngân sách, nguồn tài trợ của các doanh nghiệp, tập đoàn CNTT-TT (IBM, Intel, VNPT, Viettel, FPT...), nguồn vốn từ các nhà đầu tư, tài trợ Vietinbank, World Bank, KOICA…, các nguồn vốn từ ngân sách nhà nước được quan tâm để hợp tác triển tương đối lớn để tiếp cận có hiệu quả các sản phẩm CNTT-TT hiện đại, triển khai đồng bộ và rộng rãi trên các lĩnh vực đời sống xã hội, thuê các nhà tư vấn, đầu tư có năng lực trong và ngoài nước triển khai thực hiện.

Đề án TPTM của Đà Nẵng đã xác định, nguồn lực ngân sách thành phố 30% trong tổng kinh phí cả giai đoạn 2018-2025 để làm đòn bẩy thúc đẩy và tạo sự lan tỏa; còn lại 70% thực hiện kêu gọi xã hội hóa từ nguồn vốn doanh nghiệp và các tổ chức quốc tế, thực tế qua 05 năm triển khai Đề án, tỷ lệ xã hội hóa đạt 53%. Cụ thể, trong giai đoạn 2018-2020, UBND thành phố đã ký kết hợp tác với các tập đoàn Viettel, FPT, VNPT, Vietinbank về xây dựng TPTM; qua đó thu hút nguồn lực của các doanh nghiệp hỗ trợ thành phố triển khai TPTM[5]. Trong giai đoạn 2021-2025, UBND thành phố tiếp tục ký kết hợp tác về chuyển đổi số và xây dựng TPTM với tập đoàn Viettel, tập đoàn FPT, Công ty cổ phần Dịch vụ di động trực tuyến (Momo), Hiệp hội Phần mềm và Dịch vụ CNTT Việt Nam (VINASA), Công ty TNHH Synopsys International (Hoa Kỳ),... Các sở, ban, ngành, quận huyện, phường xã cũng đã tổ chức thực hiện ký kết hợp tác với các doanh nghiệp, Viện nghiên cứu, Trường Đại học trong triển khai thực hiện chuyển đổi, xây dựng TPTM.

Bên cạnh đó, Đà Nẵng cũng đã chủ động đưa ra các bài toán cụ thể và huy động nhiều doanh nghiệp tham gia phát triển các ứng dụng/nền tảng số cho Thành phố và người dân sử dụng (không sử dụng kinh phí ngân sách thành phố)[6]. Phối hợp các trường đại học trong nước và quốc tế để chuyển giao triển khai các công nghệ mới và đào tạo phát triển nhân lực phục vụ TPTM[7]. Đến thời điểm hiện tại, thành phố Đà Nẵng là thành viên tham gia tích cực trong các diễn đàn, tổ chức, mạng lưới quốc tế liên quan đến TPTM[8] và được cộng đồng và khu vực ASEAN ghi nhận vì những nỗ lực xây dựng đô thị hiện đại, thông minh và bền vững. Thành phố Đà Nẵng đã đăng cai tổ chức nhiều tổ chức Hội thảo quốc tế về TPTM[9] qua đó thảo luận cùng các đối tác những phương pháp quản trị bền vững thông qua ứng dụng công nghệ số, xây dựng TPTM, đổi mới sáng tạo. Qua đó, Đà Nẵng đã nhận được sự chuyển giao, chia sẻ kinh nghiệm, chuyên gia và tài trợ từ nhiều tổ chức quốc tế về xây dựng TPTM[10].

Điều đáng ghi nhận là, thành phố Đà Nẵng được Cơ quan hợp tác quốc tế Hàn Quốc KOICA viện trợ không hoàn lại (kinh phí 10,5 triệu USD, viện trợ bằng sản phẩm) triển khai Dự án Trung tâm kiểm soát khả năng phục hồi đô thị xanh và thông minh (Trung tâm ENSURE). Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt chủ trương đầu tư dự án tại Công văn số 1262/TTg-QHQT ngày 29/9/2021. Hiện nay, các nhà tư vấn Hàn Quốc đang xây dựng hồ sơ thiết kế chi tiết; dự kiến hoàn thành phê duyệt thiết kế chi tiết và triển khai thi công vào cuối năm 2024 để đưa vào sử dụng thử nghiệm vào năm 2025.

Về nguồn nhân lực: Xác định nguồn nhân lực là “then chốt của then chốt” trong thực hiện các mục tiêu phát triển TPTM, Đà Nẵng đã định hướng về chính sách nguồn nhân lực cho lĩnh vực ĐTTM như sau: (i) Tập trung tổ chức đào tạo nguồn nhân lực dành cho TPTM; thu hút nguồn nhân lực có trình độ về CNTT các lĩnh vực như Giáo dục, Y tế, Du lịch, Giao thông,... tạo ra nguồn nhân lực chất lượng, sẵn sàng cho việc tiếp nhận, vận hành hệ thống CNTT, công nghệ thông minh; (ii) Hỗ trợ người dân, nhất là cư dân khu vực nông thôn tiếp cận các ứng dụng CNTT, ứng dụng thông minh. Lồng ghép các ý tưởng xây dựng ứng dụng thông minh vào chương trình đào tạo cho học sinh bậc tiểu học để hình thành thói quen, tư duy về TPTM trong tầng lớp công dân trẻ của thành phố; (iii) Giao đơn vị sự nghiệp ngành TT&TT vận hành các hạ tầng, CSDL, ứng dụng CNTT theo nguyên tắc đặt hàng; (iv) Cho phép các cơ quan, địa phương thuê dịch vụ ngoài về CNTT để hỗ trợ, nâng cao năng lực chuyên trách về CNTT tại cơ quan, địa phương; (v) Có giải pháp tuyển dụng, thu hút nhân lực CNTT chất lượng cao về giảng dạy, nghiên cứu tại thành phố đi kèm với các chính sách ưu đãi về thu nhập, thuế, nhà ở...; (vi) Triển khai các giải pháp nâng cao chất lượng và số lượng nhân lực CNTT tại các cơ sở đào tạo trên địa bàn thành phố đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế và tiếp cận xu hướng Cách mạng công nghiệp 4.0; (vii) Phát huy vai trò của lãnh đạo, đặc biệt là người đứng đầu trong việc thu hút, thuyết phục các chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực CNTT về công tác tại thành phố hoặc phối hợp nghiên cứu, hợp tác trong các dự án của thành phố; (viii) Huy động sự hợp tác tham gia tư vấn, chuyển giao kinh nghiệm của các cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức nước ngoài[11].

Để hiện thực hóa các mục tiêu về nhân lực, đảm bảo đáp ứng yêu cầu khi triển khai thực hiện chính sách TPTM, Đà Nẵng rất chú trọng xây dựng và quản lý nguồn nhân lực CNTT. Nguồn nhân lực này bao gồm ở các cơ quan nhà nước và từ các doanh nghiệp có khả năng xây dựng, phản biện, góp ý và đề xuất các đề án, chương trình liên quan đến CQĐT và TPTM, đặc biệt có khả năng làm việc với các tập đoàn, đối tác, chuyên gia trong môi trường quốc tế. Hiện nay, với hơn 500 cán bộ chuyên trách CNTT- TT làm việc trong các cơ quan nhà nước, trong đó có 35 thạc sỹ, 8 tiến sỹ CNTT-TT, đảm bảo vận hành các hệ thống thông thông tin của chính quyền điện tử thành phố, giám sát, khắc phục các lỗi, sự cố 24/7, sẵn sàng vận hành các ứng dụng thông minh như: Trung tâm Phát triển hạ tầng CNTT; Trung tâm CNTT-TT vận hành ứng dụng; Trung tâm thiết kế vi mạch; Trung tâm Thông tin dịch vụ công (hướng dẫn sử dụng CQĐT qua “call center”). Nhân lực làm việc trong các doanh nghiệp CNTT trên địa bàn thành phố có trên 25.000 người, trong đó có khoảng 9.500 nhân lực trong lĩnh vực phần mềm và nội dung số. So với nhân lực làm việc trong lĩnh vực điện tử chủ yếu là thâm dụng lao động thì trong lĩnh vực phần mềm và nội dung số phần lớn là nhân lực có trình độ chuyên môn và kỹ năng tốt, được đào tạo bài bản, năng động, là các quản trị dự án có kinh nghiệm; có khả năng đề xuất các giải pháp đáp ứng các yêu cầu khi triển khai các nội dung liên quan đến CQĐT và TPTM.

Ngoài ra, Đà Nẵng còn thực hiện cơ chế thu hút, đãi ngộ các chuyên gia, nguồn nhân lực chất lượng cao ở trong và ngoài nước; tăng cường đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực CNTT. Đẩy mạnh hợp tác với các công ty CNTT trong và ngoài nước để đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, cập nhật các ứng dụng công nghệ mới của thế giới. Nguồn nhân lực chuyên gia của trên 25 Trường Đại học, Cao đẳng với số lượng trên 120 Tiến sĩ, 37 Phó Giáo sư chuyên ngành CNTT-TT và các chuyên ngành gần hỗ trợ tốt cho việc gắn kết giữa Nhà Doanh nghiệp - Nhà Trường - Nhà Quản lý, giúp thu hẹp khoảng cách nghiên cứu, ứng dụng trên lĩnh vực CNTT-TT, tạo dựng các nền tảng cho các nghiên cứu xử lý dữ liệu lớn (Big data), nền tảng lưu trữ (Cloud computing), trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ nhận dạng[12],..

Bên cạnh kết quả đạt được, công tác huy động, bố trí nguồn lực cho việc triển khai thực hiện chính sách ĐTTM vẫn còn những thách thức, rào cản như: Ngân sách bố trí cho kế hoạch ứng dụng CNTT còn hạn chế, một số quận trên địa bàn thành phố còn ở mức khá thấp, thậm chí có quận rơi vào nguy cơ không đủ nguồn lực để duy trì, phát triển hạ tầng và ứng dụng CNTT trong những năm đến. Hơn nữa, do việc triển khai chính sách ĐTTM cần nguồn kinh phí khá lớn và lâu dài nhưng thực tế chưa tạo ra được môi trường tham gia của các doanh nghiệp để có nguồn đầu tư thích hợp do bị ràng buộc theo các định chế, quy định trong đầu tư và các văn bản hướng dẫn “Công - Tư hợp tác” trên lĩnh vực CNTT-TT. Điều này chí ít khiến cho một số doanh nghiệp còn e dè, thận trọng trong đầu tư, tạo nên thách thức không nhỏ.

Bên cạnh đó, một vấn đề nữa cần nhìn nhận là, các ứng dụng thông minh triển khai trong thời gian qua là giai đoạn thí điểm. Qua thí điểm, cho thấy nguồn nhân lực dành cho TPTM đòi hỏi ở trình độ cao, mang yếu tố cạnh tranh với các Doanh nghiệp; việc thu hút nguồn nhân lực có trình độ về CNTT là hết sức khó khăn; các lĩnh vực như Giáo dục, Y tế, Du lịch, Giao thông,... nhân lực chưa sẵn sàng cho việc tiếp nhận, vận hành hệ thống CNTT, thông minh. Đặc biệt, một số địa phương có cơ chế thu hút, ưu đãi nguồn lực CNTT còn hạn chế, chưa khuyến khích được cán bộ tích cực trong công tác triển khai và ứng dụng CNTT ở đơn vị mình.

3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thu hút và phân bổ nguồn lực để phát triển thành phố thông minh trong thời gian đến

Huy động các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực, trí lực) để hội đủ các điều kiện thực thi chính sách phát triển TPTM là nhiệm vụ rất nặng nề, có tính sống còn; quyết định đến sự thành công của tiến trình xây dựng ĐTTM cho Đà Nẵng. Thời gian đến, thành phố Đà Nẵng cần chú trọng một số nội dung cụ thể sau:

Thứ nhất, tăng cường công tác đào tạo nguồn nhân lực dành cho việc thực thi TPTM (nhất là phục vụ cho Giai đoạn 02, Giai đoạn 03 của Đề án phát triển ĐTTM). Cần chú trọng và “phân loại” nguồn nhân lực CNTT-TT phục vụ cho từng lĩnh vực (của 06 nội dung trụ cột TPTM) như Giáo dục, Y tế, Du lịch, Giao thông,.. Phải hình thành đội ngũ nhân lực có chất lượng cao, sẵn sàng phục vụ, tiếp nhận, vận hành hệ thống CNTT, các thiết bị và CSDL thông minh. Bên cạnh đó, cần có chiến lược xây dựng, quy hoạch và quản lý quy hoạch nguồn nhân lực CNTT từ quận/huyện đến phường/xã, đảm bảo mỗi cơ quan, đơn vị có một người phụ trách CNTT. Chú trọng công tác tuyển dụng, lựa chọn sinh viên học giỏi hoặc những người đã tốt nghiệp đại học đang làm việc trong lĩnh vực CNTT -TT. Hằng năm, xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cơ bản hay chuyên ngành về ICT để tránh hiện tượng “đứt gãy” về nguồn nhân lực.

Thứ hai, nghiên cứu và ban hành cơ chế, chính sách để thu hút, đãi ngộ các chuyên gia, nguồn nhân lực chất lượng cao ở trong và ngoài nước về lĩnh vực ICT;  tăng cường đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực CNTT. Tổ chức các khóa bồi dưỡng về công tác quản lý, điều hành các dự án CNTT; tổ chức các đoàn học tập, trao đổi kinh nghiệm về ứng dụng CNTT và xây dựng ĐTTM ở các địa phương trong và ngoài nước. Có chính sách cử tuyển cán bộ đi học tập, nghiên cứu dài hạn về xây dựng TPTM ở các nước có trình độ phát triển, các nước đã hình thành hệ thống TPTM. Song song với đó, cần phát huy vai trò của lãnh đạo, đặc biệt là người đứng đầu trong việc thu hút, thuyết phục các chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực CNTT về công tác tại thành phố hoặc phối hợp nghiên cứu, hợp tác trong các dự án của thành phố. Huy động sự hợp tác tham gia tư vấn, chuyển giao kinh nghiệm của các cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức nước ngoài đối với các lĩnh vực mà Đà Nẵng cần.

Thứ ba, xây dựng và duy trì các kênh truyền thông, tương tác giữa người dân với cơ quan chức năng thành phố để người dân trực tiếp tham gia hiến kế, góp ý xây dựng TPTM (qua Tổng đài dịch vụ công Đà Nẵng, Cổng Góp ý Đà Nẵng, các phương tiện truyền thông, các kênh đối thoại trực tiếp giữa lãnh đạo thành phố và người dân...). Khuyến khích các doanh nghiệp, người dân tham gia cung cấp các dữ liệu mở (dữ liệu phi thương mại và không nhạy cảm của các doanh nghiệp) miễn phí phục vụ cho cộng đồng.

Thứ tư, cần tập trung bố trí kinh phí thực hiện các chương trình ứng dụng và phát triển CNTT hằng năm cho các đơn vị, cơ quan, địa phương của thành phố để đẩy mạnh mức độ ứng dụng CNTT. Thực tiễn trong quá trình thực hiện chính sách phát triển ĐTTM ở giai đoạn đầu cho thấy, nguồn ngân sách bố trí cho kế hoạch ứng dụng CNTT còn hạn chế (so với yêu cầu thực tế), ở một số quận của thành phố đầu tư ở mức khá thấp, thậm chí ở một vài địa phương có nguy cơ không đủ nguồn lực để duy trì, phát triển hạ tầng và ứng dụng CNTT trong những năm đến và giai đoạn tiếp theo. Hơn nữa, do việc triển khai chính sách ĐTTM cần nguồn kinh phí khá lớn và lâu dài những thực tế chưa tạo ra được môi trường tham gia của các doanh nghiệp, của các tổ chức nước ngoài để có nguồn đầu tư thích hợp do bị ràng buộc theo các định chế trong đầu tư về hợp tác công tư trên lĩnh vực CNTT-TT.

Thứ năm, đẩy mạnh hợp tác trong nước và quốc tế, thu hút nguồn lực và kinh nghiệm, công nghệ, giải pháp của các tổ chức, doanh nghiệp, chuyên gia để hỗ trợ triển khai TPTM. Theo kế hoạch của Đề án TPTM, nguồn lực ngân sách thành phố bố trí cho giai đoạn 2018-2025 là 30% (chỉ để làm đòn bẩy và sự lan tỏa), còn lại 70% thực hiện bằng phương thức xã hội hóa từ vốn doanh nghiệp và các tổ chức quốc tế. Qua hơn 05 năm triển khai, tỷ lệ nguồn vốn xã hội hóa đạt 53% là khá cao, thế nhưng về chất lượng và cơ cấu nguồn vốn cũng còn nhiều vấn đề cần phải tính toán sao cho hợp lý, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu phát triển của từng hạng mục và nhóm nội dung.

Thứ sáu, có cơ chế, chính sách mở hơn nữa để huy động các nguồn vốn ODA, tài trợ không hoàn lại trong xây dựng TPTM. Theo đó, cần đẩy mạnh thực thi chính sách xã hội hóa các nguồn lực, huy động mạnh mẽ hơn nữa các nguồn vốn ngoài Nhà nước để phát triển hạ tầng CNTT, các dịch vụ đô thị, các ứng dụng thông minh vào đời sống; đẩy mạnh và nhân rộng mô hình, chính sách hợp tác công tư trong xây dựng, phát triển đô thị; đặc biệt hạ tầng giao thông gắn với xây dựng TPTM và trong bảo vệ môi trường đô thị; tạo nguồn thu cho đô thị bằng cách đẩy mạnh, tăng cường phát triển kinh tế khu vực đô thị, hình thành mô hình “dịch vụ có thu” ở một số lĩnh vực; đổi mới cơ chế, chính sách tài chính và đầu tư để thu hút nguồn lực đầu tư nước ngoài cho phát triển TPTM.

TS. Phạm Đi



[1] Tham kiến: Tạp chí Tổ chức Nhà nước: Xu hướng phát triển hệ thống đô thị trên thế giới - kinh nghiệm đối với Việt Nam (https://tcnn.vn/news/detail/66127/Xu-huong-phat-trien-he-thong-do-thi-tren-the-gioi---kinh-nghiem-doi-voi-Viet-Nam.html)

[3] “Xây dựng đô thị hiện đại, văn minh, đô thị thông minh, đa dạng về loại hình, có bản sắc đặc trưng về kiến trúc, văn hóa ở từng địa phương” (trích Văn kiện Đại hội lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia sự thật, H.2021, tập 1, tr.126)

[4] Nghị quyết số 43-NQ/TW ngày 24 tháng 01 năm 2019 của Bộ Chính trị Về xây dựng và phát triển thành phố đà nẵng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045

[5] Tập đoàn Viettel đã tài trợ không hoàn lại 10 tỷ đồng xây dựng Kiến trúc tổng thể thành phố thông minh Đà Nẵng, triển khai ứng dụng y tế điện tử cho 56 Trạm y tế xã phường, CSDL Hồ sơ sức khỏe công dân; CSDL học sinh, giáo viên, phần mềm tuyển sinh trực tuyến. Tập đoàn FPT tài trợ không hoàn lại 39 tỷ đồng triển khai Phần mềm quản lý bệnh viện eHospital cho 12/16 bệnh viện công (35 tỷ đồng), Cổng Thông tin giao thông trực tuyến thành phố (4 tỷ đồng). Microsoft hỗ trợ cấp miễn phí các tài khoản Office 365 cho giáo viên, học sinh trên địa bàn thành phố để dạy, học trực tuyến.

[6] Ứng dụng di động Góp ý (Công ty Sioux), ứng dụng di động Cho và Nhận (Công ty DataHouse Asia), ứng dụng di động Kuuho (Công ty Enouvo)

[7] Viện Công nghệ quốc tế DNIIT - Đại học Đà Nẵng đã hỗ trợ các chuyên gia, giáo sư từ Đại học Pháp để đào tạo về các công nghệ mới cho cán bộ kỹ thuật của thành phố, chuyển giao các thiết bị để thí điểm triển khai mạng LoRa thành phố

[8] Đà Nẵng là một trong ba thành phố ở Việt Nam tham gia vào mạng lưới các Thành phố thông minh của ASEAN (ASEAN Smart City Network) năm 2018. Bên cạnh đó, thành phố còn tham gia Tổ chức các thành phố thông minh bền vững thế giới WeGO, Asia Pacific City Summit, World Cities Summit

[9] Năm 2019, Thành phố đã phối hợp với Tổ chức Chính quyền điện tử thế giới dành cho các thành phố và chính quyền địa phương (WEGO), ASOCIO và nhiều đối tác quốc tế khác tổ chức thành công Hội nghị thượng đỉnh Thành phố thông minh lần thứ 3 (Smart City Summit 2019) và Ngày Công nghệ thông tin Nhật Bản - Japan ICT Day lần thứ 12; Năm 2022, thành phố phối hợp với Liên hiệp các Tổ chức hữu nghị Việt Nam tổ chức Hội thảo quốc tế “Đô thị thông minh: Kinh nghiệm của một số nước Tây, Bắc Âu và tầm nhìn Đà Nẵng năm 2022;  Năm 2023, thành phố đã tổ chức Hội thảo “Phát triển nguồn nhân lực phục vụ ngành công nghiệp vi mạch bán dẫn; vấn đề đặt ra với thành phố Đà Nẵng; Hội thảo “Phát triển ứng dụng thông minh IoT trên nền tảng Free – Lora; phối hợp với Hiệp hội Trí tuệ nhân tạo Hàn Quốc và Mạng lưới đổi mới sáng tạo Việt Nam tại Hàn Quốc tổ chức hội thảo chuyên đề về phát triển trí tuệ nhân tạo (AI),…;

[10] Tổ chức các thành phố thông minh bền vững thế giới WeGO đã tài trợ chuyên gia tư vấn Chương trình nghiên cứu khả thi về phân tích dữ liệu trong giao thông thông minh năm 2018 (giá trị 100.000 USD). Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) tài trợ 420 triệu đồng phát triển ứng dụng Chatbot tự động tư vấn TTHC, dịch vụ công (đã hoàn thành, đưa vào sử dụng năm 2019). Bộ Đất đai, Hạ tầng, Giao thông và Du lịch Nhật Bản (MLIT) tài trợ chuyên gia tư vấn xây dựng Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi thành phố thông minh đối với 03 dự án: Xây dựng Bản đồ số quy hoạch và quản lý thông minh; xây dựng mô hình đô thị thông minh tại Khu công nghệ cao; Thí điểm dịch vụ xe đạp công cộng; làm tiền đề để Ban Quản lý Khu công nghệ cao và các khu công nghệ cao Đà Nẵng, Sở Giao thông Vận tải tham khảo triển khai. Tổng Lãnh sự quán Anh tại thành phố Hồ Chí Minh hỗ trợ thành phố xây dựng Sổ tay chuyển đổi số; Công ty what3words (Anh) cung cấp miễn phí kết nối, công nghệ chính xác 03 từ (what3words) để triển khai trên Nền tảng hành trình số Đà Nẵng; Công ty Phigytal Labs hỗ trợ miễn phí thành phố Đà Nẵng xây dựng thí điểm Nền tảng DanangChain

[11] Đề án xây dựng thành phố thông minh tại Đà Nẵng giai đoạn 2018-2025, định hướng đến năm 2030 (kèm theo Quyết định số 6439/QĐ-UBND ngày 29 tháng 12 năm 2018 của UBND thành phố Đà Nẵng)

[12] Đề án xây dựng thành phố thông minh tại Đà Nẵng giai đoạn 2018-2025, định hướng đến năm 2030 (kèm theo Quyết định số 6439/QĐ-UBND ngày 29 tháng 12 năm 2018 của UBND thành phố Đà Nẵng)

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

PHẦN TẦNG XÃ HỘI: NỘI DUNG, BẢN CHẤT, TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN VÀ VẬN DỤNG VÀO THỰC TIỄN CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY

GIA ĐÌNH VÀ CHỨC NĂNG CỦA GIA ĐÌNH

CƠ CẤU DÂN SỐ THEO GIỚI TÍNH, ĐỘ TUỔI VÀ PHÂN BỐ DÂN CƯ