CẦN CHÚ TRỌNG ĐẾN LỢI ÍCH CỦA NHÓM NÔNG DÂN BỊ MẤT ĐẤT
Sửa đổi Luật Đất đai:
CẦN
CHÚ TRỌNG ĐẾN LỢI ÍCH CỦA NHÓM NÔNG DÂN BỊ MẤT ĐẤT
Nghị quyết về “Tiếp tục đổi mới,
hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng
đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao” (sau
đây gọi là Nghị quyết 18) đã được Hội nghị Trung ương 5 khoá XIII thông qua và
mang lại nhiều kỳ vọng cho việc sửa đổi Luật Đất đai 2013 theo hướng bảo đảm lợi
ích chung cho toàn dân hướng đến sử dụng đất một cách công bằng, hiệu quả và bền
vững. Trong đó, đối với người nông dân thì đất đai là tư liệu sản xuất quan trọng
có tính quyết định đến đời sống và toàn bộ hoạt động sống của họ. Do đó, khi sửa
đổi luật đất đai cần chú trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của
người nông dân, nhất là diện bị thu hồi đất trên 70% để bảo đảm sinh kế cho
nhóm đối tượng này.
Trong nhiều năm trở lại đây, nhiều học giả
cũng như chính quyền các cấp đều lo lắng cho bài toán “người nông dân mất đất”
(nhóm nông dân phải hoàn trả quyền sử dụng đất cho Nhà nước để phục vụ cho các
mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích công cộng, lợi ích quốc gia cũng như phát
triển kinh tế-xã hội) do tiến trình đô thị hóa quá nhanh, thiếu tầm kiểm soát
của nhiều địa phương trong cả nước. Các tỉnh và thành phố có tốc độ đô thị hóa
nhanh như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Quảng Ninh, Bình Dương,
Đồng Nai,… tỉ lệ người nông dân mất đất ngày càng cao và chính quyền các địa
phương này cũng tỏ ra “khá lúng túng” trong giải quyết chế độ, tạo việc làm và
những vấn đề xã hội phát sinh khi tư liệu sản xuất chủ yếu của người nông dân
dần bị mất đi, mà một trong những nguyên nhân của nó là Luật chưa cụ thể hóa
đến lợi ích của nhóm đối tượng này. Cần phải nhìn nhận thẳn thắng rằng, khi
người nông dân mất đất không những mang lại sự khó khăn (thu nhập, việc làm,
sinh kế…) cho bản thân và gia đình mà còn gây nên những hệ lụy về mặt xã hội
khác như: di cư vào thành phố lớn tìm việc gây nên những áp lực xã hội lên các
đô thị, các tệ nạn xã hội phát sinh,…
Phát triển công nghiệp và đô thị hóa là xu thế
tất yếu và chính nó đã góp phần đẩy nhanh tiến trình hiện đại hóa đất nước,
nhưng nếu không kiểm soát và đô thị hóa ồ ạt sẽ đẩy một số lượng lớn người nông
dân vào bần cùng hóa vì mất đất. Đó là vấn đề cần nhìn nhận một cách nghiêm
túc, khoa học và có những giải pháp mang tính khả thi tránh những hệ lụy đáng
tiếc trong phát triển, nhất là trong bối cảnh Đảng và Nhà nước đang chủ trương
đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới như hiện nay.
Người nông dân giao đất lại cho Nhà nước để
phục vụ cho các mục đích quốc phòng, an ninh, mục đích công cộng cũng như phát
triển kinh tế xã hội là việc làm cần thiết và tất yếu. Thế nhưng, vấn đề là ở
chỗ, trước trong và sau khi bị thu hồi (đặc biệt là thu hồi trên 70% diện tích
đất), họ đã có nguy cơ rơi vào nhóm dễ bị tổn thương và có nguy cơ rơi vào
nghèo đói. Lúc này, luật cần phải bảo đảm lợi ích và phải phản ánh được sự hài
hòa, thống nhất về lợi ích giữa cá nhân, tập thể và Nhà nước. Trong đó, nhất
thiết phải có điều khoản quy định đặc biệt cho nhóm nông dân bị thu hồi trên
70% diện tích đất sản xuất.
Theo nghiên cứu, hiện nay những người nông dân
mất đất phải đối mặt với hàng loạt vấn đề. Đó là, ngoài vấn đề mất đất - mất đi
nguồn thu nhập từ ruộng đất, thì họ còn phải đối mặt với một loạt các vấn đề
kéo theo: khi tiến hành thu hồi đất và giải tỏa tái định cư, hàng loạt những
phong tục tập quán, lối sống của người nông dân cũng bị xáo trộn, nói cách khác
khi người nông dân bị “thu hồi đất” thì vô hình trung cũng bị “thu hồi” một số
nét văn hóa, phong tục tập quán đã gắn với phương thức sản xuất lâu đời của họ;
sự chuyển đổi phương thức sản xuất cũng là một khó khăn lớn bởi người nông dân
thiếu những kĩ năng nghề nghiệp khác ngoài nông nghiệp; nhiều sự việc khiếu
kiện, khiếu nại tập thể, vượt cấp và mang tính chất phức tạp do thu hồi đất,
chính những sự vụ này cũng mang trong nó những bất ổn và sự xáo trộn xã hội
nhất định;…
Vì vậy, sửa đổi luật đất đai lần này cần phải
nghiêm túc, thận trọng xem xét toàn diện, đồng bộ những vấn đề đặt ra và phải
tập trung vào những giải pháp cơ bản sau đây:
Thứ nhất, đối với các nhà lập pháp và các cơ quan hữu
quan, cần thống nhất trong nhận thức và ban hành các luật định liên quan đến
việc thu hồi đất của nông dân. Theo tinh thần Nghị quyết 18 về vấn đề đất đai,
mục tiêu tổng quát là hoàn thiện thể chế, chính sách về quản lý và sử dụng đất
đồng bộ, phù hợp với thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa, trong đó mục tiêu cụ thể là đến năm 2023 phải hoàn thành sửa đổi
Luật Đất đai năm 2013 và một số luật liên quan; bảo đảm tính đồng bộ, thống
nhất. Đây sẽ là “cơ hội tốt” để các nhà quản lý, nhà lập pháp và các chủ thể
quản lý nhà nước có liên quan tiến hành nghiên cứu sâu hơn, tỉ mỉ hơn, khoa học
hơn để có một bộ luật về đất đai hoàn chỉnh, phù hợp với tình hình mới và cũng
bảo vệ được quyền lợi chính đáng của người dân khi phải giao đất cho Nhà nước.
Thứ hai, luật và các văn bản dưới luật cần phải qui
định rõ ràng vai trò, lợi ích giữa các chủ thể lợi ích liên quan đến đất đai
khi thu hồi trong đó có quyền lợi của Nhà nước, của nhà đầu tư và của người
dân. Đặc biệt, đối với nhóm nông dân bị mất đất thì cần phải có những giải pháp
xác thực, lâu dài, căn cơ về quyền lợi của họ khi bị thu hồi đất (nhất là đối
với đối tượng thu hồi trên 70% diện tích hoặc toàn bộ đất)[1],
cần cung cấp cho họ những đảm bảo xã hội cơ bản để tránh những rủi ro gặp phải
khi phải giao phần lớn hay toàn bộ đất sản xuất. Ngoài ra,cần quy định rõ về
giải quyết vấn đề việc làm, đào tạo nghề, hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp, bảo
hiểm y tế,…
Thứ ba, trong vấn đề đền bù, giải tỏa, tái định cư
cần phải chú trọng đời sống của người bị thu hồi đất sau tái định cư và bảo đảm
nguyên tắc “tái định cư trước, giải tỏa sau”, bảo đảm những quyền lợi chính
đáng của người nông dân không bị xâm phạm, hoàn thiện cơ chế bồi thường khi thu
hồi đất. Hiện nay chúng ta chỉ dừng lại việc bồi thường ở khía cạnh vật chất có
tính “phần ngọn” và “thu hồi” hơn là “trưng mua” và “phần gốc”. Do đó, các luật
liên quan đến việc thu hồi đất cần phải nhấn mạnh việc “trưng mua” hơn là “thu
hồi” và điều cần thiết hơn là phải “thấy được” những giá trị tích lũy của người
nông dân từ mảnh đất mà họ đã “sử dụng” trong một thời gian dài.
Thứ tư, cần xử lý nghiêm những tập thể, cá nhân lợi
dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt ruộng đất, chiếm dụng tiền đền bù hay các
khoản hỗ trợ khác theo luật định. Thực tế cho thấy, nhiều trường hợp tiền đền
bù, giải tỏa, di dời, tái định cư của người dân bị chiếm dụng một cách trắng
trợn khiến không ít bất bình trong nhân dân. Do đó, luật cần phải cụ thể hóa
các hành vi vi phạm pháp luật khi tiến hành thu hồi đất của nông dân, góp phần
hạn chế tối đa những hiện tượng tiêu cực trong công tác đền bù, giải tỏa, tái
định cư.
[1] Khoản 1 Điều 19 Nghị định 69
/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 về Qui định bổ sung về qui hoạch sử dụng
đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư mặt dù
cho qui định cụ thể cho những hộ gia đình có diện tích bị thu hồi trên 70%,
trong trường hợp này mức hỗ trợ có thể lên đến 36 tháng tùy trường hợp cụ thể
(3 triệu đồng đối với di chuyển trong tỉnh và 5 triệu đồng đối với ngoài tỉnh)
tuy nhiên theo chúng tôi đây không phải là những giải pháp căn cơ để đảm bảo
cuộc sống của nhóm người này.
Phạm Đi
Nhận xét
Đăng nhận xét