GIA ĐÌNH VÀ CHỨC NĂNG CƠ BẢN CỦA GIA ĐÌNH
Gia đình là yếu tố cấu thành cơ bản của cơ cấu xã hội tổng thể,
gia đình phản ánh chân thực mối quan hệ xã hội đa dạng và phức tạp. Gia đình,
như quan điểm Mác-xít, “là quan hệ xã hội duy nhất” gia đình là cộng đồng lao động
và cộng đồng sinh hoạt, là khuôn khổ tồn tại và là thế giới của con người. Nếu
xem xét gia đình như một thiết chế xã hội thì cần hướng tới các chức năng, việc
định hướng giá trị và nghĩa vụ mà gia đình phải giải quyết với tư cách là một
đơn vị xã hội đặc biệt. gia đình được sinh ra tồn tại và phát triển chính là do
nó sứ mệnh được đảm đương những chức năng đặc biệt mà xã hội và tự nhiên đã
trao cho, không thiết chế xã hội nào có thể thay thế được. Gia đình có những chức
năng cơ bản sau:
Chức năng sản xuất-kinh tế
Gia đình là một đơn vị sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội.
Hơn thế nữa nó cũng là đơn vị tiêu dùng chủ yếu các sản phẩm do nền kinh tế sản
xuất ra, do vậy nó là tác nhân quan trọng thúc đẩy sự phát triển của kinh tế.
Chức năng kinh tế của gia đình Việt Nam
truyền thống có những đặc điểm sau: (1) Gia đình Việt Nam truyền thống là một
đơn vị kinh tế độc lập, tự sản tự tiêu; (2) Người chồng, người cha trong gia
đình đóng vai trò là trụ cột kinh tế, họ đồng thời nắm toàn bộ quyền kiểm soát
về kinh tế gia đình; (3) Sự trì trệ, máy móc và bảo thủ trong hoạt động kinh tế
gia đình luôn biểu hiện cùng cơ chế tổ chức và quản lý mang tính gia trưởng.
Chức năng tình cảm
Thoả mãn tình cảm tinh thần và thể xác giữa hai vợ chồng; thỏa
mãn tình cảm giữa cha mẹ và con cái (sống vì nhau), tình cảm giữa anh chị em
trong gia đình (thương yêu, đùm bọc lẫn nhau). Phần đông mọi người trong xã hội
đều coi gia đình là “tổ ấm”, nơi người ta đi về, nơi người ta chia sẻ với nhau
về niềm vui, nỗi buồn, tức là nơi tình cảm của con người được thỏa mãn. Chức
năng tình cảm, tâm lí của gia đình Việt Nam truyền thống có đặc điểm: (1) Đề
cao vai trò của các giá trị đạo đức và các giá trị đó chi phối hầu hết các mối
quan hệ của gia đình; (2) Sự thương yêu, chăm sóc con cái hết lòng của cha mẹ đối
với con cái, sự hiếu thảo của con cái với cha mẹ; sự gắn bó và yêu thương nhau
giữa anh chị em, sự thuỷ chung, hoà thuận trong tình nghĩa vợ chồng; (3) Những
tình cảm đối với gia đình cũng là cội nguồn của tình làng xóm quê hương và xa
hơn là tình yêu đất nước: "cáo chết ba năm quay đầu về núi". Gia đình
là nơi sẻ chia, cảm nhận, của mỗi thành viên trong gia đình. Là nơi dừng chân
sau một ngày làm việc mệt mỏi. Là sự gắn kết yêu thương của con người.
Chức năng giáo dục - xã hội hóa
Theo lý thuyết gia đình là “tế bào của xã hội, là yếu tố
đầu tiên và cơ bản của quá trình giáo dục”. Gia đình là nơi đại bộ phận trẻ em
được người lớn thường xuyên giáo dục: “Dạy con từ thưở còn thơ”. Trong môi trường
gia đình, trẻ bắt đầu hình thành nhân cách, lối sống và đặc biệt là nhân sinh
quan. Các bậc phụ huynh, nhất là các bà, các mẹ có ảnh hưởng rất lớn tới tương
lai của đứa trẻ: Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà. Có thể coi gia đình là một xã hội
thu nhỏ. Mỗi thành viên là một tính cách. Việc va chạm các tính cách khác nhau
trong một gia đình là môi trường đầu tiên để trẻ em học cách hoà hợp với cộng đồng.
Chức năng xã hội hóa - giáo dục của gia đình truyền thống Việt Nam có đặc điểm
sau: (1) Nhắc đến nhiều nhất trong nội dung giáo dục của gia đình là đạo đức và
cách sống làm người; (2) Sự đánh giá của xã hội với gia đình luôn lấy tiêu chí
nhìn vào con cái; (3) Mục đích giáo dục trong gia đình truyền thống khác nhau
theo loại hình gia đình, những nhà nghèo khó vẫn cố gắng cho con học đến nơi đến
chốn; (4) Người cha thường giáo dục bằng sự nghiêm khắc, người mẹ thường giáo dục
bằng sự nhân từ, “thương cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi” hay “con hư tại
mẹ, cháu hư tại bà”,…
Phạm Đi
Nhận xét
Đăng nhận xét